CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ TRẺ EM 1.1 Khái niệm Truyền hình: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh”[tr.127] Sự xuất hiện của truyền hình như một điều thần kì trong sáng tạo của con người. Với sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình mang lại cho con người cảm giác về một cuộc sống thật đang hiện diện. Trên thế giới, chương trình truyền hình đầu tiên qua dây dẫn được thực hiện vào năm 1925. Ở Việt Nam, truyền hình ra đời khá muộn so với nhiều nước trên thế giới.
Ngày 7/9/1970, chương trình truyền hình đầu tiên được phát thử nghiệm tại số 59, phố Quán Sứ, Hà Nội. Truyền hình ngày càng phát triển vượt bậc cả về nội dung và hình thức chương trình. Ở truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phát thanh, tính hình tượng của hội họa, cảm xúc tư duy của âm nhạc. Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật công nghệ giúp truyền hình tạo ra phương pháp mới trong truyền đạt thông tin.
Truyền hình là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa: kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí. Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Truyền hình trở thành người bạn thân thiết ở mỗi nhà. Có kênh truyền hình dành cho mẹ, có các chương trình truyền hình tin tức; thể thao dành cho bố, có kênh truyền hình dành cho các con.
Truyền hình 11 chuyên biệt đã thực sự và tồn tại với mọi tầng lớp khán giả, đáp ứng các nhu cầu, sở thích, mối quan tâm của công chúng.2 Khái niệm khung chương trình truyền hình: Cấu trúc khung chương trình là thuật ngữ chúng tôi đề nghị thay thế cho nguyên bản tiếng Anh là “Format”. Mặc dù thuật ngữ này đi vào Việt Nam chưa lâu, nhưng chưa thống nhất về thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt, nên trong môi trường làm việc của các Đài Phát thanh- Truyền hình, trên những văn bản trao đổi về chuyên môn, sự vụ trong ngành truyền hình, và cả trên Báo chí, người ta vẫn dùng nguyên ngữ “forma” khi nói về một bản thiết kế tổng quát của một chương trình truyền hình. Trong từ điển tiếng Anh, “format” được hiểu là khuôn khổ, cỡ, dạng… của một thứ nào đó, hoặc là cách thức sắp xếp cho cái gì đó vào khuôn khổ. Khi công nghệ thông tin phát triển vào năm 1958, thuật ngữ “format” bắt đầu được sử dụng khá phổ biến với nghĩa là định dạng, được hiểu là sự sắp xếp thông tin, các đặc điểm chuyên biệt của một chương trình trong một dạng thức có thể được thực hiện và lưu trữ trên máy tính.
Khi được dùng trong ngành công nghệ phát thanh truyền hình, thuật ngữ “format” chỉ nội dung tổng quát và cách sắp xếp, trình bày, các đặc điểm cố định và nổi bật của một chương trình phát thanh hay truyền hình. Về chương trình truyền hình, theo GS. Tạ Ngọc Tấn, trong cuốn “Truyền thông đại chúng” [tr.28], thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong 2 trường hợp: - Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần, trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của Đài truyền hình. - Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác 12 được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát định kì… Khi bàn đến “format” một chương trình truyền hình, người ta hiểu thuật ngữ chương trình truyền hình theo nghĩa của trường hợp thứ hai.
Đây cũng chính là quan niệm về chương trình truyền hình được đề cập trong nghiên cứu này. Có thể thấy rằng, toàn bộ mục đích phản ánh, ý tưởng sáng tạo của người làm truyền hình, phương pháp sáng tạo chủ yếu, hình thức thể hiện được lựa chọn, cũng như cách thức tổ chức xây dựng chương trình, và nhiều yếu tố khái quát cụ thể nữa về chương trình… tất cả đều được nhìn thấy trong bản mô tả được gọi là format chương trình. Khung chương trình truyền hình là những nguyên tắc chung về nội dung và hình thức, cùng với kịch bản cố định của một chương trình được nhắc đi nhắc lại trong các kì phát sóng, tạo cho chương trình đặc điểm riêng có thể nhận dạng, và có khả năng được mua bán chuyển nhượng trên thị trường.3 Khái niệm về Trẻ em Khái niệm trẻ em được hiểu rất khác nhau ở mỗi người, tùy thuộc vào môi trường hoàn cảnh sống, tùy thuộc vào trình độ văn hóa và nhận thức của mỗi người. Điều 1, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em nêu: “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp Quốc gia áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.12] Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, “Những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên”.102] Như vậy, điều đó khẳng định trẻ em cũng phải được hưởng mọi quyền lợi của một công dân, một con người, đã được nêu trong Công ước quốc tế về 13 quyền con người mà “không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác”.8] Ở Việt Nam, ngoài thuật ngữ trẻ em còn có nhiều thuật ngữ khác được dùng để chỉ đối tượng này.
Tuy nhiên, mỗi thuật ngữ lại bao hàm ý nghĩa khác nhau là phản ánh cách nhìn nhận về trẻ em khác nhau. Phổ biến nhất là thuật ngữ thiếu niên, nhi đồng hoặc thanh thiếu niên. Hiện nay, từ trẻ em đã được dùng trong tất cả các văn bản của Nhà nước Việt Nam, là ngôn ngữ chính thức dành để chỉ đối tượng trẻ em có xác định độ tuổi. Đây là cách gọi lấy định lượng độ tuổi làm chuẩn mực.
Cách gọi này được thừa nhận trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam và quốc tế, tránh hiểu sai về đối tượng này. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, tôi tập trung nghiên cứu đối tượng trẻ em từ 0-12 tuổi. Chương trình truyền hình cho trẻ em là một tác phẩm báo chí cụ thể, riêng lẻ. Đó là những chương trình chỉ dành riêng để phản ánh hoặc chuyển tải thông điệp hay thông tin nào đó về một vấn đề cụ thể của trẻ em, liên quan đến trẻ em nhằm tác động vào hành vi, nhận thức của trẻ em.4 Vai trò của truyền hình đối với việc hình thành nhân cách trẻ em Truyền hình là một hoạt động của xã hội, vì thế nó cũng phải có trách nhiệm trong hoạt động “xã hội hóa” giáo dục của đất nước.
Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng nhanh nhạy, sinh động, hiệu quả trong việc tuyên truyền, giới thiệu các tri thức văn hóa mang tính toàn diện, nâng cao trình độ hiểu biết, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của mọi người. “Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước”, vì vậy hình thành nhân cách giáo dục cho trẻ em ngay từ nhỏ là một nhiệm vụ quan trọng và cao cả 14 của không chỉ riêng ai. Truyền hình từ khi ra đời tới nay đã đóng góp hiệu quả vô cùng to lớn trong việc hình thành nhân cách cho trẻ em. Truyền hình đã cung cấp một khối lượng lớn các thông tin đa chiều, đầy đủ, cập nhật, thiết thực và hợp lý.
Trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của truyền hình thì nhiệm vụ giáo dục hình thành nhân cách trẻ em luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu. Nếu như hệ thống giáo dục, đào tạo bổ sung những tri thức mới thì truyền hình có thể cập nhật thông tin tri thức mới nhất, phong phú và đa chiều nhất giới thiệu tới khán giả. Trong đặc thù đó thì trẻ em lứa tuổi 0-12 được nhìn nhận từ thế hệ tiềm năng, tương lai của đất nước. Đầu tư cho trẻ em chính là sự đón đầu bắt kịp, phát triển cùng khu vực và thế giới.
Vì thế truyền hình luôn dành cho đối tượng trẻ em sự quan tâm, ưu đãi. Những nhu cầu, tình cảm, nguyện vọng của trẻ em luôn là mục đích của truyền hình. Những chương trình không chỉ dừng ở việc tạo cho trẻ em một sân chơi giải trí mà qua đó tác động tới suy nghĩ, tình cảm của các em. Điều này giúp các em có thể nhận thức được đúng - sai, tốt - xấu, hướng cho các hoạt động của trẻ em tới chuẩn mực xã hội hướng thiện.
Đó chính là sự định hình hay hình thành một nhân cách, mục tiêu, lý tưởng sống đúng đắn, ý nghĩa trong cuộc sống. Từ một đòi hỏi mang tính cấp thiết của thời đại thể hiện sự khởi đầu cho một chiến lược lâu dài, mục tiêu giáo dục tuyên truyền của truyền hình cũng cần thể hiện tính khoa học, có hệ thống, mang tính chuyên sâu hơn, đòi hỏi những người làm truyền hình có sự phối hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa giáo dục và giải trí. Chương trình thể hiện tốt các nội dung giáo dục hình thành nhân cách cho các em nhưng không nhàm chán, đơn điệu, giáo huấn. Những đóng góp, cố gắng của những người làm truyền hình là hết sức to lớn với cộng đồng, thể hiện qua các chương trình giáo dục hình thành nhân cách trẻ em.
Các chương trình này không chỉ gia tăng về số lượng mà chất 15 lượng cũng không ngừng đổi mới và nâng cao một cách rõ rệt. Các chương trình dạy học qua truyền hình luôn bám sát chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thể hiện bằng các phương tiện dạy học hiện đại và hấp dẫn học sinh. Các chương trình giải trí, bổ trợ kiến thức được thiết kế sinh động, dễ hiểu, được khán giả cảm thụ một cách hiệu quả nhất.2 Truyền hình dành cho trẻ em trên thế giới và Việt Nam 1. Truyền hình dành cho trẻ em trên thế giới Kênh CCTV Thiếu nhi: là kênh tổng hợp dành cho thiếu nhi của Đài Truyền hình Trung Quốc.
Đối tượng khán giả của kênh là trẻ em dưới 12 tuổi.