mở đầu là các website http://nghenhac.info, http://tialia.com vào những năm cuối 2003 và đột phá là http://nhacso.net là sản phẩm của dự án FPT Music, ra đời từ năm 2005, với mục tiêu trở thành hệ thống âm nhạc bản quyền trực tuyến. Đây cũng là đơn vị đầu tiên thực hiện việc ký bản quyền với Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam vào tháng 6/2005. Thị trường nghe nhạc số Việt Nam chứng kiến một bước phát triển mạnh mẽ về tổng nhu cầu. Trong khi nhacso.net vẫn giữ vững được số lượng truy cập của mình thì hàng chục site nghe nhạc khác đều phát triển dữ dội.
9 Nhưng thay đổi đột phá chỉ tới trong năm 2007, được đánh dấu bởi sự ra đời của phần mềm mã nguồn mở XtreMedia. Giá hosting rẻ, kết hợp với sự thuận lợi, dễ dàng trong việc cài đặt/quản lý/khai thác của phần mềm XtreMedia đã khiến cho một người hầu như không có kiến thức về IT có thể dựng lên cả một site cộng đồng nhạc nghe trong vòng vài ngày. Từ năm 2007 đến nay, chưa có số liệu thống kê chính thức nhưng người thưởng thức âm nhạc có thể biết đến hàng chục website tìm kiếm, nghe nhạc, download nhạc trực tuyến ở Việt Nam như baamboo.com … trong số đó, hầu hết các website đều vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ 1.
Quyền tác giả và nội dung quyền tác giả Khái niệm, đặc điểm quyền tác giả Để hiểu được quyền tác giả là gì, ta cần làm rõ khái niệm về tác giả, đối tượng quyền tác giả, nội dung quyền tác giả Tác giả: Tại Điều 736 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định tác giả là: Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó. Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả. Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm 10 phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó. Như vậy tác giả là người sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm.
Sáng tạo là việc tạo ra tác phẩm từ lao động trí óc. Sáng tạo trong quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả được coi là việc sử dụng sức lao động và khả năng suy xét để tạo ra tác phẩm. Đối với một tác phẩm do nhiều người cùng sáng tạo thì những người đó được coi là đồng tác giả. Những cá nhân hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người sáng tạo ra tác phẩm không được coi là tác giả.
Nếu căn cứ vào nguồn gốc của tác phẩm sẽ có hai loại tác giả: Tác giả của tác phẩm gốc và tác giả của tác phẩm phái sinh (bao gồm tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể biên soạn, chú giải, tuyển chọn) Quyền tác giả: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu tác phẩm được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp. Về mặt pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định quyền của tác giả đối với tác phẩm do họ sáng tạo. Các quy phạm pháp luật này do Nhà nước ban hành nhằm xác nhận bảo vệ và phát triển các quyền (gồm quyền nhân thân và quyền tài sản) của tác giả đối với tác phẩm của họ.
Những người khác phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền đó của tác giả. Như vậy, quyền tác giả là quyền và lợi ích của tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Vì quyền tác giả còn liên quan đến các chủ sở hữu tác phẩm nên trong thực tế, quyền tác giả còn được gọi là Bản quyền (Copyright). Ngoài việc có thể đem lại giá trị kinh tế cho tác giả, bản 11 quyền giống như quyền sở hữu công nghiệp còn đảm bảo quyền nhân thân, tức là đảm bảo uy tín, danh dự của tác giả đối với tác phẩm.
Đặc điểm quyền tác giả Quyền tác giả có hai đặc điểm sau: (i) Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ. Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, tác phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất định, quyền tác giả không bảo vệ nội dung tác phẩm. Vì thế, quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định.
Nói cách khác, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các hành vi pháp lý. Điều này có ý nghĩa là cơ quan nhà nước sẽ không xem xét nội dung tác phẩm, việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ có giá trị chứng cứ chứ không có giá trị pháp lý như đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp. (ii)Tác phẩm bảo hộ phải có tính nguyên gốc. Điều đó không có ý nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải là mới mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra.
Như vậy một tác phẩm muốn được bảo hộ, phải do sức lao động trí óc sáng tạo của tác giả tạo ra. Đối tượng và nội dung quyền tác giả Đối tượng quyền tác giả Đối tượng quyền tác giả được quy định tại điều 737 Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005 bao gồm: Mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào. 12 Tại Điều 2 Công ước Bern quy định tác phẩm được bảo hộ: (i) Các tác phẩm văn học và nghệ thuật bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, sách pample và các bài viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm khác cùng chủng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình nhiếp ảnh; các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, phác họa và các tác phẩm thể hiện không gian ba chiều liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học. (Khoản 1) (ii) Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác từ một tác phẩm văn học nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc mà không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc.
(Khoản 3) (iii) Các tuyển tập các tác phẩm văn học nghệ thuật, chẳng hạn như các bộ bách khoa từ điển và các hợp tuyển, nhờ phương pháp chọn lọc và kết cấu tư liệu mà tạo thành một sáng tạo trí tuệ, cũng được bảo hộ như một tác phẩm mà không phương hại đến quyền tác giả của các tác phẩm tạo nên các hợp tuyển này. (Khoản 5) (iv) Tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, thiết kế công nghiệp và các mô hình công nghiệp; quyết định những điều kiện để các tác phẩm này được bảo hộ, miễn là phải phù hợp với Điều 7 (4) của Công ước này. Những tác phẩm nào chỉ được bảo hộ như một thiết kế và mô hình công nghiệp ở quốc gia gốc, thì cũng chỉ được hưởng quyền bảo hộ đặc biệt dành cho loại đó ở một quốc gia khác trong Liên hiệp. (Khoản 7) 13 Tuy nhiên đối với các tác phẩm được bảo vệ quyền tác giả thì đó phải là nguyên tác.
Ý tưởng tác phẩm không cần phải mới nhưng loại hình biểu hiện dù văn học, nghệ thuật hoặc khoa học phải nguyên bản của tác giả. Và việc bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng hoặc giá trị của tác phẩm, tác phẩm đó sẽ được bảo hộ cho dù nó được đánh giá là hay hay dở - và cả mục đích mà tác phẩm hướng tới, bởi vì việc bảo hộ tác phẩm không liên quan tới việc sử dụng tác phẩm như thế nào. Ngoài ra theo “Quy định mẫu cho luật quốc gia về bảo hộ các tác phẩm dân gian chống lại việc khai thác trái phép những hành động gây phương hại khác” thông qua năm 1982 dưới sự bảo trợ của WIPO và UNESCO thì “các biểu hiện nghệ thuật truyền thống dân gian” cũng nằm trong đối tượng được bảo hộ. Nội dung quyền tác giả Nội dung quyền tác giả bao gồm: quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm.
Quyền nhân thân thuộc quyền tác giả Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Sự biểu hiện của quyền nhân thân được xác định vào thời điểm tác phẩm được tạo ra và cũng theo đó, quyền tài sản của tác giả được xác lập. Quyền nhân thân gồm quyền nhân thân không được phép chuyển giao và quyền nhân thân được phép chuyển giao. Theo Quy định tại khoản 2 điều 738 Bộ Luật Dân sự Việt Nam, quyền nhân thân không được phép chuyển giao thuộc quyền tác giả bao gồm: + Ðặt tên cho tác phẩm; + Ðứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; 14 + Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm.
Tác giả có quyền yêu cầu những người sử dụng tác phẩm của mình như ca sỹ, diễn viên, tổ chức xuất bản, ghi âm, ghi hình phải truyền đạt toàn bộ sản phẩm mà không được cắt xén, xuyên tạc hoặc sửa chữa nội dung của tác phẩm. Chỉ có tác giả mới có quyền thay đổi hoặc cho phép người khác thay đổi nội dung tác phẩm.