Phần mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ và quản trị công nghệ của doanh nghiệp thương mại điện tử. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng chuyển giao công nghệ cải tiến quy trình vận hành sản xuất hình ảnh nội dung tại VinEcom.
Giải pháp hoàn thiện chuyển giao công nghệ tại VinEcom Kết luận 4 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến nay, chưa có một đề tài khoa học nào nghiên cứu về chuyển giao công nghệ, quản trị công nghệ ứng dụng vào quản lý sản xuất, kinh doanh thương mại điện tử của công ty TNHH VinEcom. Các đề tài có liên quan chủ yếu nghiên cứu về Quản trị công nghệ, chuyển giao công nghệ ở dạng lý thuyết, và các ứng dụng và phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam nói chung (tầm vĩ mô), rất ít đề tài nghiên cứu chuyển giao công nghệ và quản trị công nghệ về kinh doanh trực tuyến trong quy mô doanh nghiệp.
Các đề tài đã được nghiên cứu có nội dung liên quan đến chuyển giao công nghệ, quản trị công nghệ : - Luận văn của tác giả Nguyễn Đoan Trang thực hiện năm 2004: Chuyển giao công nghệ thông qua các dự án FDI: Thực trạng và giải pháp; Tác giả nghiên cứu với mục đích nâng cao hiệu quả của việc tiếp nhận và sử dụng công nghệ chuyển giao qua các dự án FDI. Nội dung được đề cập chủ yếu liên quan đến các vấn đề chuyển giao công nghệ ở tầm vĩ mô thuộc các dự án FDI. - Tài liệu nội bộ của thạc sỹ Phan Tú Anh thực hiện năm 2006 : Quản trị công nghệ; Tài liệu đã tổng quát hóa được lý thuyết tổng hợp về chuyền giao công nghệ và quản trị công nghệ. Cung cấp một công cụ lý luận tổng quát, mang nhiều giá trị tham khảo.
Các đề tài đã được nghiên cứu có nội dung liên quan đến thương mại điện tử quy mô doanh nghiệp như : 5 z - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Kim Truy thực hiện năm 2012: Chiến lược phát triển dịch vụ trực tuyến của Công ty VDC giai đoạn 2012-2020; Nội dung luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Kim Truy nghiên cứu cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh và dịch vụ trực tuyến; đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện chiến lược phát triển dịch vụ trực tuyến của Công ty VDC. Tác giả chưa nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến kinh doanh trực tuyến hàng hóa hữu hình. - Luận án của tác giả Nguyễn Ngọc Hiển, thực hiện năm 2013: Giải pháp để ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở công ty Unimex Hà Nội; Công trình của tác giả đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở công ty Unimex Hà Nội. Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu sâu hơn về các nghiệp vụ như giao nhận, chăm sóc khách hàng, xúc tiến thương mại,v.trong kinh doanh trực tuyến.
- Công trình nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên trường đại học Ngoại Thương năm 2008: Ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gốm xứ Bát Tràng; Công trình nghiên cứu về thực trạng kinh doanh truyền thống của các doanh nghiệp gốm xứ Bát Tràng, đưa ra giải pháp ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh. Tác giả chưa đưa ra được các giải pháp khắc phục những khó khăn trong kinh doanh trực tuyến như thanh toán, giao nhận v. - Luận văn Thạc Sỹ của Trịnh Thu Trang năm 2014 : Phát triển kinh doanh trực tuyến của công ty cổ phần Baza Việt Nam; Công trình phân tích tình hình kinh doanh trực tuyến qua hơn ba năm tại công ty Cổ Phần Baza Việt Nam, đưa ra các phương hướng và giải pháp để Công ty tiếp tục phát triển nhanh, mạnh hơn lĩnh vực kinh doanh trực tuyến. Tuy nhiên công 6 z trình không đề cập sâu về các công nghệ quản lý cũng như các vấn đề về chuyển giao công nghệ trong quản lỹ của lĩnh vực thương mại điện tử.
Những khái niệm chung về chuyển giao công nghệ và quản trị công nghệ của doanh nghiệp 1. Khái quát về chuyển giao công nghệ và quản trị công nghệ 1.1 Các khái niệm cơ bản về công nghệ Khái niệm: Công nghệ được hình thành và phát triển từ khi xuất hiện loài người và hoạt động lao động sản xuất. Mỗi một mốc đánh dấu sự phát triển của loài người đều gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một loại hình công nghệ nào đó. VD: Thời kỳ đồ đá: sản xuất, lao động bằng đá.
Thời kỳ đồ đồng: công nghệ luyện kim màu. Thời kỳ đồ sắt: công nghệ luyện kim đen. Thế kỷ 18 công nghiệp hóa: phát minh máy hơi nước,. Thế kỷ 21 : Các công nghệ hiện đại như công nghệ nano.
Hiện này còn có nhiều quan điểm trái ngược nhau, khác nhau về công nghệ. Đó là: + Quan điểm tích cực: công nghệ nâng cao năng suất, là nguồn của cải, phúc lợi của loài người, là động lực của sự phát triển, nâng cao chất lượng sống. + Quan điểm tiêu cực: công nghệ làm tăng bất công, nới rộng khoảng cách giàu nghèo, tăng số người thất nghiệp. Tuy nhiên có bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa về công nghệ đó là: - Khía cạnh thứ nhất “công nghệ là máy biến đổi” Khía cạnh thứ nhất đề cập đến khả năng sản xuất ra của cải vật chất, đồng thời công nghệ phải đáp ứng mục tiêu khi sử dụng và thoả mãn yêu cầu về mặt kinh tế 7 z nếu nó muốn được áp dụng rộng rãi trên thực tế sản xuất.
Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa khoa học và công nghệ. - Khía cạnh thứ hai “công nghệ là một công cụ” Khía cạnh thứ hai nhấn mạnh rằng công nghệ là một sản phẩm của con người tạo ra, do đó con người có thể làm chủ được nó. Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ đối với con người và các cơ cấu tổ chức của con người. - Khía cạnh thứ ba “công nghệ là kiến thức” Khía cạnh thứ ba, kiến thức của công nghệ đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức, bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể nhìn thấy được.
Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau. Việc sử dụng một công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó. - Khía cạnh thứ tư “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”. Khía cạnh thứ tư đề cập đến vấn đề: công nghệ dù là kiến thức song vẫn có thể được mua, được bán.
Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó. Trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology – APCTT) coi công nghệ hàm chứa trong bốn thành phần; kỹ thuật, kỹ năng con người, thông tin và tổ chức. Xuất phát từ các khía cạnh trên, ta thừa nhận định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” [17] 8 z Trong nhiều trường hợp khi cần thiết, người ta vẫn thừa nhận những định nghĩa công nghệ khác cho một mục đích nào đó.
Ví dụ, trong lý thuyết tổ chức người ta coi “công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ”; trong Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam, quan niệm: “công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ Bất cứ công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần. Các thành phần này tác động qua lại lẫn nhau để thực hiện quá trình biến đổi mong muốn. Các thành phần này hàm chứa trong phương tiện kỹ thuật (Facilities), trong kỹ năng của con người (Abilities), trong các tư liệu (Facts) và khung thể chế (Framework) để điều hành sự hoạt động của công nghệ. a/ Công nghệ hàm chứa trong các vật thể bao gồm: Các công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng khác.
Trong công nghệ sản xuất các vật thể này thường làm thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi (thường gọi là dây chuyển công nghệ), ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ. Có thể gọi thành phần này là phần kỹ thuật (Technoware – ký hiệu T). b/ Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong công nghệ bao gồm: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp đạo đức lao động… Có thể gọi thành phần này là phần con người (Humanware – ký hiệu H). c/ Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức: Những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những quy trình đào tạo công nhân, bố trí 9 z sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con người.
Có thể gọi thành phần này là phần tổ chức (Orgaware ký hiệu O). d/ Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ, bao gồm : Các dữ liệu về phần kỹ thuật, về phần con người và phần tổ chức .