Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. 3 - Chương 3: Đánh giá thực trạng về cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam. - Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam. Kết luận Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cơ chế quản lý tài chính các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ ở Việt Nam đã có rất nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước hướng đến việc phân tích thực trạng tài chính trong cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị cải cách, đổi mới nhằm thúc đẩy, đổi mới hơn nữa cơ chế quản lý tài chính ở các trường đại học công lập. Các công trình nghiên cứu từ trước tới nay, có thể khái quát như sau: Một là, nêu lên xu thế, kinh nghiệm tự chủ tại các cơ sở giáo dục đại học công lập của một số nước, kinh nghiệm ở một số cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam (Vũ Trường Giang, 2011); nêu ra một số lý luận về tự chủ, tự chủ tài chính trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học (Ngô Thế Chi, 2011). Một số tác giá đã nêu ra mối quan hệ, điều kiện thực hiện tự chủ, tác động của chính sách tăng học phí.
Tác giả Bùi Tiến Hanh (2006) đã nghiên cứu và luận giải cơ chế để thực hiện xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính công đối với giáo dục công lập, cơ chế khuyến khích và quản lý đối với hoạt động giáo dục ngoài công lập, cơ chế thu và sử dụng học phí,. Tuy nhiên trong nghiên cứu của tác giả, phương pháp tiếp cận về chính sách học phí vẫn bị ảnh hưởng bởi quan điểm coi học phí là nguồn thu thuộc ngân sách nhà nước, được Nhà nước cho phép các trường đại học thu trên cơ sở hoạt động đào tạo do nhà nước đầu tư. Nghiên cứu chưa coi giáo dục đại học là một loại hàng hóa và mang lại lợi ích tư do đó người được hưởng lợi ích phải chịu chi trả chi phí tương xứng với chất lượng hàng hóa theo quan điểm chia sẻ chi phí. 5 Hai là, sơ bộ đánh giá thực trạng, những tác động tích cực của cơ chế quản lý tài chính như tạo ra cơ sở pháp lý để các trường thực hiện tự chủ tài chính; giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước; tạo điều kiện cho các trường chủ động nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính gắn với chất lượng hoạt động (như tiết kiệm chi, chống lãng phí).
Đa dạng hóa và tăng nguồn thu sự nghiệp, nguồn tài trợ từ doanh nghiệp, các dự án (Hoàng Văn Châu, 2011). Tác giả Lê Phước Minh tập trung nghiên cứu, đánh giá chính sách tài chính cho giáo dục đại học, đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học ở nước ta. Với góc độ tiếp cận nhằm phân tích chính sách tài chính cho giáo dục đại học nên những kết quả đóng góp của Luận án có giá trị tham khảo tốt với các cơ quan quản lý vĩ mô nhưng chưa đánh giá đầy đủ cơ chế quản lý tài chính đối với riêng cơ sở giáo dục đại học công lập. Ba là, chỉ ra những vướng mắc, khó khăn liên quan tới cơ chế quản lý tài chính cơ sở giáo dục đại học công lập, đó là sự chưa đồng nhất giữa cơ chế và thực tê, phân bổ ngân sách cho chi thường xuyên còn nặng tính bình quân, dựa trên yếu tố “đầu vào”, chưa chú trọng đầu ra là chất lượng, nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề.
Trong đó, khó khăn nhất vẫn là chưa có cơ chế phù hợp để tăng nguồn thu tài chính phục vụ cho hoạt động của đơn vị. Nguồn thu tài chính chủ yếu thu từ ngân sách nhà nước, các khoản học phí, lệ phí. Tuy nhiên, Nguyễn Trường Giang (2014) chỉ ra "mức học phí tại các trường đại học hiện nay rất thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên: Chính sách học phí của Việt Nam đã được giữ nguyên trong một thời gian trên 10 năm (từ 1998 đến 2009), đến năm 2010 được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP với mức điều chỉnh theo lộ trình tăng dần từ 20-25% mỗi năm. Tuy vậy theo tính toán đến năm 2015 mức thu học phí cũng chỉ đáp ứng 6 được từ 40% - 50% chi phí đào tạo cần thiết".
Đồng quan điểm đó, Phạm Thị Vân Anh (2017) đánh giá mức học phí quy định chưa đảm bảo bù đắp đủ chi phí hoạt động cần thiết, chưa sát với yêu cầu chi phí đặc thù của từng ngành, nghề đào tạo, cào bằng cũng như chưa gắn với yêu cầu về chất lượng, thương hiệu của từng trường. Mặt khác, cơ chế quản lý chưa đưa ra tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị được giao quyền tự chủ. Cơ chế kiểm soát theo yếu tố đầu vào chưa làm rõ trách nhiệm giải trình của các trường. Việc ra quyết định đầu tư, sửa chữa, mua sắm tài sản chịu sự quản lý, chi phối của nhiều văn bản (Luật xây dựng, đấu thầu, quản lý tài sản.) làm cho các trường gặp khó khăn trong đầu tư, nâng cấp cở sở vật chất để nâng cao chất lượng đào tạo.
Bốn là, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp, như duy trì tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đại học (2%÷2,4% tổng chi ngân sách); đầu tư một số trường đạt chuẩn quốc tế; thay đổi cách phân bổ ngân sách; thí điểm cơ chế đặt hàng, “mua” dịch vụ công đối với các ngành học. Đẩy mạnh xã hội hóa, có lộ trình tính đủ chi phí đào tạo đại học theo các mức độ (Nguyễn Trường Giang, 2014). Các nghiên cứu cũng đã khẳng định, trong các nội dung của tự chủ tài chính trong các trường đại học, việc hình thành cơ chế quản lý tài chính là vấn đề quan trọng nhất. Thực tế đó đòi hỏi các trường đại học cần phải xây dựng cho mình một cơ chế sử dụng kinh phí, sử dụng các nguồn thu đáp ứng được yêu cầu công khai, minh bạch, tiết kiệm và hiệu quả.
Nguyễn Thị Ngọc Loan (2016) đưa ra một số giải pháp như "các trường cũng cần tiếp tục đổi mới toàn diện: Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ mang tính chi tiết, đảm bảo tính công khai, dân chủ và công bằng; Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của từng người lao động. Trong đó, chú trọng giải pháp chi trả thu nhập theo hiệu quả công việc, khuyến khích, hấp dẫn, thu hút người có năng lực, có trình độ". Mở rộng hơn, Vũ Minh Đạo (2017) đề xuất 7 "Về tài chính và tài sản, cơ sở giáo dục đại học có đủ năng lực thực hiện tự chủ ở mức cao nhất, tự bảo đảm toàn bộ kinh phí thường xuyên và kinh phí đầu tư thì được tự chủ về quản lý, sử dụng kết quả tài chính theo cơ chế tài chính của doanh nghiệp". Nhìn chung, các nghiên cứu đều thống nhất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, cơ chế trả thu nhập, quản lý tài sản.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu nhìn nhận vấn đề từ góc độ quản lý nói chung như cơ chế tự chủ, chính sách phân bổ tài chính cho giáo dục đại học và chính sách học phí, chưa đi sâu nghiên cứu vào vấn đề cụ thể, đặc biệt quan trọng là cơ chế quản lý tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay, gồm: cơ chế thu học phí và thu sự nghiệp, cơ chế quản lý các nguồn thu và cơ chế sử dụng các nguồn thu. Các kết quả nghiên cứu mang tính chất chuyên biệt về một nội dung như công tác kế toán, công tác đào tạo chuyên môn. chưa có điều kiện sử dụng số liệu tài chính để phân tích, làm rõ tác động của cơ chế tới việc mở rộng, đa dạng hóa nguồn thu; đổi mới, nâng cao chất lượng. Đặc biệt, chưa phân tích sâu cơ cấu thu chi.
Giải pháp chỉ mang tính gợi mở, đơn lẻ cho một trường, chưa làm rõ trách nhiệm giải trình, chưa khái quát chung cho các trường có cùng đặc điểm cơ chế quản lý tài chính tự chủ toàn diện. Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính tại cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện tự chủ 1. Khái quát về cơ sở giáo dục đại học công lập 1. Khái niệm và vai trò của các cơ sở giáo dục đại học công lập Khái niệm, mô hình và địa vị pháp lý của trường đại học công có sự khác nhau trong hệ thống giáo dục đại học ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên khái niệm về trường đại học công lập có thể được hiểu như sau: Trường đại học công lập là trường do chính quyền thành lập và quản lý. Nguồn kinh phí đảm bảo cho các trường đại học công lập hoạt động phụ thuộc vào chính sách đầu 8 tư tài chính và mức độ xã hội hóa nguồn lực dành cho giáo dục đại học của mỗi quốc gia. Theo Luật Giáo dục đại học được Quốc hội ban hành năm 2012, cơ sở giáo dục đại học công lập là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. Đồng thời, Luật Giáo dục đại học cũng nhắc đến quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa ho ̣c và công nghê ̣, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.
Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kế t quả kiể m đinh ̣ chấ t lươ ̣ng giáo d ục. Tuy nhiên, trong khái niệm này, chưa có một nội hàm cụ thể thế nào là cơ chế quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính thì sẽ được làm gì, và không được làm gì.