ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dưỡng là nền tảng của sức khỏe và trí tuệ, bảo đảm dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọng nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất, trí tuệ và nâng cao chất lượng của cuộc sống con người [1]. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, cuộc sống bận rộn khiến phần đa con người ít vận động thể lực, chế độ dinh dưỡng bất hợp lý, nguồn thực phẩm không an toàn, thích ăn đồ chế biến sẵn có chứa nhiều đường ngọt, nhiều muối, nước uống có ga, ít ăn các loại rau, củ, quả, … đã làm gia tăng tình trạng thừa cân béo phì – nguyên nhân gây ra các bệnh mạn tính không lây như: bệnh tim mạch, đái tháo đường típ 2, ung thư, đột quỵ [2]. Việt Nam là một nước đang phát triển, hiện nay nước ta đang chịu gánh nặng kép về vấn đề dinh dưỡng tỷ lệ thừa cân béo phì chiếm khoảng 25% dân số, tỷ lệ thừa cân béo phì đang gia tăng theo tuổi, ở nữ giới cao hơn nam giới; 32,5% ở vùng thành thị có tỷ lệ cao hơn nông thôn là 13,8%. Cùng với đó là tình trạng thiếu năng lượng trường diễn, theo thông tin giám sát dinh dưỡng năm 2013 tình trạng này ở nam là 15,8% và ở nữ là 18,5% [3].
Việc thiếu năng lượng trường diễn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ngoại hình, tâm lý, sức khỏe, giảm hiệu suất lao động, thậm chí nếu nghiêm trọng thì còn sẽ ảnh hưởng tới cả những hoạt động trí não. Người trưởng thành được khuyến cáo cần tăng cường các hoạt động thể lực nhằm nâng cao thể trạng và phòng tránh bệnh tật, tuy vậy theo thống kê của WHO năm 2010 thì có khoảng 23% người trưởng thành không hoạt động thể lực đủ theo khuyến cáo. Việc không thường xuyên hoạt động thể chất hiện được xác định là yếu tố nguy cơ thứ 4 gây tử vong trên toàn cầu. Mức độ không hoạt động thể chất đang tăng lên ở nhiều quốc gia, có tác động lớn đến tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm (NCD) và sức khỏe chung của người dân trên toàn thế giới.
Đặc biệt thì càng nước có thu nhập cao thì việc 2 rèn luyện, hoạt động thể lực có xu hướng cao hơn so với những nước có thu nhập thấp [4]. Để cải thiện sức khỏe, vóc dáng con người thì việc kết hợp xây dựng một chế độ ăn hợp lý dựa trên nhu cầu của cơ thể với mức độ lao động, cường độ tập luyện thể thao là việc rất quan trọng. Ngày nay có rất nhiều loại hình tập luyện mà con người có thể lựa chọn trong đó Gym một hoạt động thể lực dành cho mọi đối tượng, không phân biệt tuổi tác, giới tính, với các dụng cụ thiết bị chuyên dụng và hiện đại giúp cơ thể săn chắc, vóc dáng trẻ trung, giảm stress, giảm đau xương khớp và thoái hóa. Người tập Gym sẽ có tính kỷ luật cao, có lối sống và thói quen ăn uống rất khoa học đây cũng là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong cuộc sống.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng của việc luyện tập thể dục đến sức khỏe, vóc dáng con người nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về ảnh hưởng của việc tư vấn dinh dưỡng đến tình trạng người dinh dưỡng người tập Gym. Xuất phát từ ý tưởng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:―Kết quả tƣ vấn cải thiện tình trạng dinh dƣỡng cho ngƣời tập Gym tại Thanh Xuân, Hà Nội năm 2020 - 2021” với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả một số chỉ số nhân trắc, thói quen sinh hoạt và ăn uống của người tập Gym tại Thanh Xuân, Hà Nội năm 2020 - 2021. Đánh giá kết quả tư vấn cải thiện nhân trắc, khẩu phần và tần suất tiêu thụ thực phẩm của người tập Gym tại Thanh Xuân, Hà Nội năm 2020 - 2021.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Gym và các hoạt động thể lực 1. Gym và lịch sử ra đời Gym là tên viết gọn của Gymnasium nghĩa là phòng tập thể dục từ này có nguồn gốc từ phòng tập thể dục của người Hy Lạp cổ đại. Phòng tập thể dục thường là khu vực để rèn luyện các hoạt động thể lực trong nhà, nơi có mái che, có các thiết bị máy móc, dụng cụ mà con người có thể sử dụng được [5].
Các phòng tập thể dục đầu tiên được ghi lại có niên đại cách đây hơn 3000 năm ở Ba Tư cổ đại nơi đó được gọi là Zurkhaneh – khu hoạt động thể lực, với sự phát triển vượt bậc Turnplatz - một không gian ngoài trời dành cho thể dục dụng cụ do nhà giáo dục người Đức Friedrich Jahn thành lập vào năm 1811 [6],[7]. Đến năm 1852 phòng tập đầu tiên trong nhà được xây dựng ở Hesse (Đức) bởi Adolph Spiess [8]. Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật dẫn đến đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được chú trọng, ngày nay tập Gym là điều phổ biến như ở Hoa Kì hầu hết các phòng tập Gym đều có mặt trong các trường cao đẳng, trung học, tiểu học. Các phòng tập này được sử dụng cho giáo dục thể chất, thể thao nội bộ.
Theo một báo cáo năm 2003, số lượng các phòng tập thể dục ở Hoa Kỳ đã tăng hơn gấp đôi kể từ cuối những năm 1980 [9]. Giữa những thập niên của năm 1960 và 1970, các chuỗi phòng Gym ra đời. Nổi bật nhất là vào năm 1965, chuỗi phòng tập Gold được thành lập bởi vận động viên thể hình kiêm doanh nhân người Mỹ Joe Gold ở Venice, California. Đây mới thật sự là sân chơi cho người tập thể hình.
Đến những năm 1980, phòng gym bắt đầu phổ biến và nhiều chuỗi phòng tập được thành lập, có thể kể đến 24 Hour Fitness (1983) và LA Fitness (1984). Đến những năm 1990, Gym đã thật sự bùng nổ vì mọi người đã thấy được mối liên kết giữa tập luyện và thành công. Vào thời điểm 4 này, hàng loạt các chuỗi phòng tập nổi tiếng được hình thành trong đó có nhiều tập đoàn lớn như Lifetime Fitness (1990), Equinox Fitness (1991). Ở Việt Nam hiện nay, Gym đang trở thành trào lưu và ngày một phổ biến trong cuộc sống, nhất là đối với giới trẻ.
Tập Gym đang là xu hướng được nhiều người lựa chọn vì nó mang lại hiệu quả cao, giúp đốt cháy năng lượng nhanh, khối cơ tăng đúng vị trí tập đem lại một thân hình đẹp theo mong muốn của người tập luyện. Ngày nay việc đến phòng tập Gym không chỉ là tập với các máy móc, tạ mà nó còn được cải tiến rất nhiều với nhiều môn tập mà mọi người có thể lựa chọn như Yoga, Zumba, Kickfit… Song song với quá trình luyện tập thì việc cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý là một yếu tố vô cùng quan trọng và không thể tách rời được. Chính yếu tố này sẽ giúp người tập có một sức khỏe tốt, tiếp thu nhanh các bài tập, giữ dáng và ngăn ngừa những tác động xấu của môi trường và bệnh tật [10]. Hoạt động thể lực Hoạt động thể lực (HĐTL) là bất kỳ chuyển động cơ thể do cơ và xương tạo ra, trong quá trình thực hiện có sự biến đổi làm tăng nhịp tim, nhịp thở và gây tiêu hao năng lượng.
HĐTL được thực hiện theo nhiều cách khác nhau như: tham gia vào các công việc lao động hàng ngày, hoạt động vui chơi, luyện tập thể dục thể thao và đi lại,. Hoạt động thể lực được phân loại dựa vào mục đích vận động và cường độ vận động. Các hoạt động thể lực dựa vào mục đích vận động như rèn luyện sức mạnh, sức bền, sự khéo léo và khả năng lấy thăng bằng. Để đánh giá mức độ hoạt động thể lực, người ta sử dụng đơn vị METs (Metabolic Equivalent of Task): là đơn vị được sử dụng để đánh giá lượng Oxy cơ thể tiêu thụ trong hoạt động thể lực.
Dựa vào cường độ vận động thì HĐTL được chia làm 2 loại: + Hoạt động thể lực cơ bản (cường độ trung bình): là những hoạt động thể lực nhẹ hàng ngày như đứng, đi chậm, mang vác vật nhẹ. Tốc độ chyển 5 hóa gấp 3-6 lần/phút so với tốc độ chuyển hóa khi cơ thể nghỉ ngơi (3 - 6 METs). + Hoạt động thể lực có lợi ích cho sức khỏe (cường độ mạnh): là những hoạt động thể lực mà khi cộng thêm vào với các hoạt động thể lực cơ bản sẽ tạo ra những lợi ích tốt hơn cho sức khỏe như làm giảm nguy cơ tử vong, ung thư, cao huyết áp, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa, loãng xương… Đó là những loại hình hoạt động thể lực tích cực như bơi, chạy, nhảy dây, đạp xe, khiêu vũ, Yoga, Gym… Tốc độ chuyển hóa gấp trên 6 lần/phút so với tốc độ chuyển hóa khi cơ thể nghỉ ngơi (3 - 6 METs) [12]. Hoạt động thể lực có lợi ích sức khỏe, cho trái tim, cơ thể và trí óc góp phần ngăn ngừa và quản lý các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, ung thư và tiểu đường, làm giảm các triệu chứng trầm cảm và lo lắng, đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển ở những người trẻ tuổi.
Đặc biệt HĐTL là nền tảng để cân bằng năng lượng và kiểm soát cân nặng [12]. Để có một sức khỏe tốt thì các hoạt động thể lực nên phù hợp theo độ tuổi và tình trạng cơ thể, theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO khuyến cáo về hoạt động thể lực ở người trưởng thành từ 18 - 64 tuổi nên thực hiện ít nhất 150 - 300 phút/ tuần với hoạt động thể lực cường độ trung bình; hoặc ít nhất 75 - 150 phút/ tuần với hoạt động thể lực cường độ mạnh; việc tăng thời gian luyện tập và kết hợp linh hoạt giữa hai cường độ hoạt động sẽ tăng thêm lợi ích cho sức khỏe [12]. Nhưng trong thực tế hiện nay trên toàn cầu, cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người không đáp ứng mức hoạt động thể lực theo khuyến nghị. Ở các nước có thu nhập cao việc thiếu hoạt động thể lực ở nam 26% và nữ là 35% tỉ lệ này thường cao hơn so với ở nước có thu nhập thấp tương ứng với 12% nam giới và 24% nữ giới [12].
Theo kết quả nghiên cứu của Regina Guthold và cộng sự năm 2017 được tiến hành trên 358 cuộc điều tra với 1,9 triệu đối tượng trên 168 quốc gia từ năm 2001- 2016 có 27,5% số người không hoạt động theo khuyến nghị ở từng nhóm tuổi với tỉ lệ ở nam là 6 23,4% và nữ là 31,7%.