CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ VẬT TƯ 1. Khái niệm và vai trò của quản trị vật tư 1. Khái niệm quản trị vật tư Quản trị vật tư là toàn bộ các hoạt động nhằm kiểm soát quá trình vận động của các luồng vật tư dịch vụ trong các chu trình kinh doanh từ việc xác định nhu cầu vật tư, xây dựng kế hoạch nguồn hàng, tổ chức mua sắm cho đến quản trị dự trữ cấp phát, quyết toán, phân tích đánh giá quá trình Nhiệm vụ chính của quản trị vật tư: - Xác định đúng đắn nhu cầu về vật tư cho hoạt động sản xuất của đơn vị và lập kế hoạch mua sắm vật tư hàng ngày, quý, tháng. - Lập đơn hàng vật tư - kỹ thuật và ký hợp đồng cung ứng với các nhà cung cấp, theo dõi việc thực hiện hợp đồng đã ký.
- Tìm kiếm các nguồn vật tư bổ sung để thoả mãn đầy đủ cho các nhu cầu các doanh nghiệp. - Tổ chức tiếp nhận vật tư về số lượng, chất lượng và thực hiện bảo quản tốt vật tư. - Theo dõi thường xuyên tình hình sử dụng và dự trữ sản xuất và có những biện pháp cụ thể, kịp thời đảm bảo cho mức dự trữ đáp ứng được yêu cầu sản xuất liên tục. - Đảm bảo vật tư theo hạn mức cho các phân xưởng và các đơn vị sử dụng khác trong doanh nghiệp và thường xuyên kiểm tra việc sử dụng những vật tư đã giao.
- Hạch toán vật tư và báo cáo tình hình bảo đảm vật tư của doanh nghiệp. Vai trò của quản trị vật tư Quá trình sản xuất là quá trình con người sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hoá 11 của đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm với chất lượng ngày càng cao, thoả mãn đầy đủ nhu cầu đa dạng của con người. Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn đòi hỏi phải có các yếu tố của sản xuất trong đó có vật tư kỹ thuật. Thiếu vật tư thì không thể có hoạt động sản xuất ra của cải vật chất.
Khi vật tư đóng vai trò là tư liệu lao động mà bộ phận chủ yếu là máy móc thiết bị, thể hiện trình độ trang bị kỹ thuật cho sản xuất, thì nó là nhân tố cực kỳ quan trọng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng quy mô sản xuất, tạo điều kiện sử dụng hợp lý sức lao động và nguyên, nhiên vật liệu, tiết kiệm các yếu tố vật chất trong sản xuất. Khi vật tư đóng vai trò là đối tượng lao động thì vật tư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư và do đó đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vật tư được đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, đúng chất lượng là điều kiện quyết định khả năng tái sản xuất mở rộng. Trong quá trình sản xuất vật tư là bộ phận trực tiếp tạo nên sản phẩm, nó chiếm 60 - 70% trong cơ cấu giá thành sản phẩm do đó vật tư có vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá cả sản phẩm.
Từ vai trò trên đây của vật tư cho thấy ý nghĩa to lớn của hoạt động bảo đảm vật tư cho sản xuất, của hoạt động thương mại đầu vào ở doanh nghiệp. Việc bảo đảm vật tư đầy đủ, đồng bộ, kịp thời là điều kiện tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất, cho sự nhịp nhàng đều đặn của quá trình sản xuất. Bất cứ một sự không đầy đủ, kịp thời và đồng bộ nào của vật tư đều có thể gây ra sự gián đoạn sản xuất và vi phạm các quan hệ kinh tế đã được thiết lập giữa các doanh nghiệp với nhau đồng thời dẫn tới sự tổn thất trong sản xuất kinh doanh. Đảm bảo tốt vật tư cho sản xuất là đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng, đúng về quy cách, chủng loại, kịp thời về thời gian và đồng bộ.
Điều này ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp, đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và hơn nữa là sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Định mức tiêu hao vật tư 1. Khái niệm Định mức tiêu hao vật tư là lượng vật tư cần thiết tối đa để sản xuất một đơn vị sản phẩm trong điều kiện kinh tế kỹ thuật cho trước Kết cấu của định mức: - Trọng lượng tinh của sản phẩm. - Phế liệu công nghệ có thể sử dụng lại.
- Tổn thất do kỹ thuật - Tổn thất do tổ chức và quản lý 1. Các phương pháp lập định mức vật tư 1. Phương pháp thí nghiệm kinh nghiệm Thực chất của phương pháp này là dựa vào các kết quả thí nghiệm có kết hợp với kinh nghiệm đã thu được trong sản xuất kinh doanh để xây dựng mức cho kỳ kế hoạch. Tuỳ theo đặc điểm, tính chất của vật tư và đặc điểm của sản phẩm sản xuất để xác định nội dung, phạm vi thí nghiệm, cụ thể: - Thí nghiệm trong sản xuất (thực nghiệm): tức là tiến hành sản xuất thử ngay trong điều kiện thực tế của sản xuất để thu thập, phân tích số liệu và rút ra kết luận về mức tiêu dùng cho kỳ kế hoạch.
- Thí nghiệm trong cơ sở nghiên cứu (phòng thí nghiệm): Tức là tiến hành sản xuất thử trong phòng thí nghiệm tìm ra là mức tiêu dùng cho kỳ kế hoạch trong điều kiện cho phép của cơ sở thí nghiệm. Phương pháp phân tích tính toán Thực chất của phương pháp này là tính mức cho từng sản phẩm dựa trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến chi phí vật liệu, tính toán toàn bộ tiêu hao vật liệu trong sản xuất và tổng hợp lên mức kế hoạch. Khi tiến hành phương pháp này cần có sự nghiên cứu tỉ mỉ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và các tài liệu thống kê báo cáo về tình hình sử dụng vật liệu. Các bước tiến hành: 13 - Thu thập nghiên cứu và phân tích tài liệu ban đầu bao gồm: Các tiêu chuẩn Nhà nước về chất lượng sản phẩm, các bản thiết kế sản phẩm và các quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, nghiên cứu những điều kiện thực tế về trang thiết bị và điều kiện kỹ thuật của sản xuất và các tiêu chuẩn kỹ thuật, các báo cáo về tình hình sử dụng vật tư của năm trước.
- Xác định từng thành phần tiêu hao: Dựa vào công nghệ sản xuất đã xác định, kiểm tra lại tính tiên tiến của các phương pháp, kiểm tra chất lượng, kết cấu sản phẩm đã lựa chọn và lần lượt xác định trọng lượng của sản phẩm hay hao phí hữu ích tạo ra từ một lượng vật tư ban đầu. - Xác định các hao phí công nghệ, xác định các hao phí vật tư do yếu tố chủ quan gây ra: như do tổ chức sản xuất không hợp lý. - Tổng hợp mức cho một sản phẩm: Căn cứ vào những thành phần hao phí đã xác định được ở trên, người ta tổng hợp thành mức (M1) theo công thức: M1 = P + H1 + H2 Trong đó: M1 là mức tiêu dùng cho kỳ kế hoạch. P là hao phí hữu ích.
H1 là hao phí vật tư liên quan đến công nghệ sản xuất. H2 là hao phí vật tư liên quan đến trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh. Mức xác định theo phương pháp này chỉ ra được những đại lượng chi phí chi tiết của mức. Do vậy, kết quả xác định mức bảo đảm tính tiên tiến.
Xác định nhu cầu vật tư 1. Những đặc trưng cơ bản của nhu cầu vật tư công nghiệp Nhu cầu vật tư là những nhu cầu cần thiết về nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định Nhu cầu vật tư có những đặc trưng sau đây : - Liên quan trực tiếp đến sản xuất. - Nhu cầu được hình thành trong lĩnh vực sản xuất. 14 - Tính xã hội của nhu cầu vật tư.
- Tính thay thế lẫn nhau. - Tính bổ sung cho nhau. - Tính khách quan của nhu cầu. - Tính đa dạng và nhiều vẻ.
Các nhân tố hình thành nhu cầu vật tư doanh nghiệp Nhu cầu vật tư được hình thành dưới tác động của nhiều nhân tố như: - Tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. - Quy mô sản xuất - Cơ cấu khối lượng sản phẩm sản xuất. - Quy mô thị trường vật tư. - Cung ứng vật tư - hàng hoá có trên thị trường.
- Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp tiêu dùng vật tư. - Giá cả vật tư hàng hoá và chi phí sản xuất kinh doanh. Các phương pháp xác định nhu cầu vật tư Tính nhu cầu vật tư phải căn cứ vào định mức sử dụng vật tư cho một đơn vị sản phẩm và sản lượng sản phẩm n Vncj Qi. Qi là sản phẩm loại i sản xuất trong kỳ kế hoạch.
Vdmij là định mức tiêu hao vật tư loại j cho một sản phẩm loại i n là số mặt hàng sản xuất. Chi phí vật tư loại j C j Vncj.Pj Qi Vdmij.Pj (tiÒn ) n n m Tổng chi phí vật tư C vt C j Qi .Pj j 1 j 1i 1 Pj là giá vật tư loại j.n là số loại vật tư của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, ngoài những nhu cầu vật tư kể trên, cần xác định các loại nhu cầu cho sửa chữa thiết bị, nhà xưởng, nhu cầu vật tư cho công tác nghiên cứu khoa học, nhu cầu vật tư cho xây dựng cơ bản và nhu cầu cho dự trữ vật tư của doanh nghiệp, các loại nhu cầu này đều được dựa vào cân đối cung cầu vật tư nên doanh nghiệp cần xác định, dựa vào các phương pháp như tính trực tiếp, theo thời hạn sử dụng vật tư, theo sự tham gia của từng loại vật tư để sản xuất sản phẩm… 1. Các nguồn hàng để đáp ứng nhu cầu vật tư của doanh nghiệp 1.
Nguồn hàng tồn kho đầu kỳ Do thời điểm xây dựng phương án mua sắm vật tư cho sản xuất vào lúc mà năm báo cáo chưa kết thúc nên lượng tồn kho đầu kỳ được xác định bằng cách ước tính, cụ thể là: Dđk = Dtt + Nh – X Trong đó: Dđk là tồn kho ước tính đầu kỳ kế hoạch. Dtt là tồn kho thực tế tại thời điểm lập kế hoạch.