chương 1 đã định nghĩa cơ sở lưu trú du lịch là: “Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch. ” [14] Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ (2015) đã đưa ra định nghĩa “khách sạn” trong Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4391:2015 Khách sạn-xếp hạng như sau: “Cơ sở lưu trú 19 du lịch được xảy dựng thành khối, đảm báo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách. ” [1] Giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của Khoa Du lịch - Khách sạn (2004) của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã bổ sung một định nghía có tầm khái quát cao và có thể sử dụng trong học thuật và nhận biết về KS ở Việt Nam: “Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghỉ), dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu trú lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điếm du lịch [9; 13] Medlik và Ingram (2000) đã viết trong cuốn “The Business of Hotels” về sự đa dạng của các khái niệm về KS: “Sự đa dạng phong phú của khách sạn có thể được nhìn thấy từ nhiều thuật ngữ đê biểu thị những loại hình đặc biệt của nó [24; 14] Ngày nay, khi nói đến khách sạn, người ta có thể hiểu đó là một co sở kinh doanh lưu trú với một số điều kiện nhất định về số lượng phòng và các tiện nghi thiết bị bên trong, bên cạnh đó KS không chỉ cho thuê phòng mà còn kinh doanh (KD) các dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ bổ sung khác. Ngoài ra, KS còn được phân loại theo mức cung cấp dịch vụ, quy mô kinh doanh, mức độ liên kết và quyền sở hữu, hình thức sở hừu.
Bên cạnh đó, KS có các loại hình như KS thương mại, KS hội nghị, KS sòng bạc, KS định cư, KS sân bay, KS nghỉ dưỡng, KS ven đường, KS ven đô,. Khải niệm kinh doanh khách sạn Khái niệm KDKS lúc đầu dùng để chỉ hoạt động cung cấp chồ ngủ cho khách. Khi nhu cầu lưu trú và ăn uống với các mong muốn thỏa mãn khác nhau của khách ngày càng đa dạng, KDKS đã mở rộng đối tượng và bao gồm cả khu cắm trại, làng du lịch, các khách sạn-căn hộ, motel,. Nhưng dù sao KS vẫn chiếm tỷ trọng lớn và là cơ sở chính với các đặc trưng cơ bản nhất của hoạt động kinh doanh phục vụ nhu cầu lưu trú cho khách, vì vậy loại hình kinh doanh này có tên là “kinh doanh khách sạn”.
20 Trong tác phẩm “Managing Hotels Effectively”, Nebel (1991) đã nêu nhận định về KDKS như sau: “Kinh doanh khách sạn có hàng loạt các hình thức kinh doanh khác nhau nhưng trong cùng một lĩnh vực moi dạng hình thức cần có những kiến thức cơ bản riêng của nó”. [23; 12] Theo Nguyễn Văn Mạnh và Hoàng Thị Lan Hương (2008) thì KDKS được hiểu là “Hoạt động kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi ăn uống cho khách từ nơi khác đến. ”[11; 13] Từ những định nghĩa trên, có the hieu rằng KDKS là một hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi. KDKS bao gồm các chức năng: chức năng sản xuất, chức năng lưu thông và chức năng tiêu thụ sản phẩm với mục tiêu là thu hút được nhiều khách du lịch, thỏa mãn được nhu cầu của khách ở mức độ cao đem lại lợi nhuận kinh tế cho ngành du lịch, đất nước và cho chính bản thân KS.
Ngành KDKS có vị trí quan trọng, là một hoạt động không the thiếu trong ngành du lịch. KS là nơi dừng chân của khách du lịch trong hành trình cùa họ, KS cung cấp nhùng nhu cầu thiết yếu (ăn, ngủ nghỉ, .) và những nhu cầu vui chơi giải trí khác. KDKS tạo ra sức mạnh tống họp góp phần đưa ngành du lịch phát triển, tạo công ăn việc làm cho NLĐ, tạo nguồn thu ngoại tệ cũng như là sợi dây liên kết với các ngành khác. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn * KDKS đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn: Nhu cầu du lịch là nhu cầu mang tính tong hợp đòi hởi phải được thỏa mãn một cách đồng bộ của con người.
Tuy vẫn là các nhu cầu về ăn, ở, ngủ, nghỉ nhưng khi đi du lịch thì những nhu cầu này đòi hỏi về chất lượng cao, trang thiết bị phòng ngủ phải tiện nghi, hiện đại.Chính vì vậy, để tạo ra sản phẩm KS với các đặc điểm trên thì đòi hỏi cần phải đầu tư một lượng vốn ban đầu tương đổi lớn. 21 * KDKS đòi hỏi lượng LĐ trực tiếp tương đổi lớn'. Hoạt động kinh doanh này chủ yếu sử dụng lực lượng LĐ sống là con người. Chính vì đặc điểm này, mà các nhà quản lý KS phải luôn luôn đối mặt với những khó khăn về chi phí cho LĐ trực tiếp tuông đoi cao, khó giảm thiểu chi phí này và không ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng sản phẩm của KS.
KDKS phải coi trọng công tác quản trị và sử dụng nguồn nhân lực. Đó là một trong những khâu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dịch vụ của KS, sự hấp dần của KS. * KDKS mang tính chu kỳ: Với những biến động được lặp đi lặp lại của thời tiết khí hậu trong năm, từ đó tạo ra sự biến động theo mùa của lượng khách du lịch đến các điểm du lịch. Do đó đòi hỏi người quản lý phải luôn kiểm soát và điều chỉnh nhằm có biện pháp tăng cường lượng khách đến trong những dịp vắng khách.
* KDKS mang tỉnh liên tục: KS mở cửa 24/24 trong ngày và phục vụ 365 ngày trong năm vì thế đòi hỏi khách sạn phải luôn duy trì sự phục vụ cao độ và quản lý chất lượng tốt nhằm đáp ứng nhu cầu của khách. * KDKS có xu hướng chọn lọc đối tượng khách: Mồi KS có một cấp hạng, tính chất, vị trí và chiến lược kinh doanh mà từ khi xây dựng và hoạt động đều nhắm đến một vài phân khúc KH nhất định và tập trung khai thác đối tượng đó. * KDKS có tỉnh trực tiếp và tông hợp cao: Tính trực tiếp là do ảnh hưởng phải đặc thù sản phẩm KS là không thể lưu kho và quá trình sản xuất đồng thời với quá trình tiêu dùng. Mà đế cung cấp sản phẩm cũng cần sự tham gia của nhiều bộ phận và công đoạn mà trong công đoạn cũng có nhiều khâu phục vụ khác trong đó.
Do đó, đòi hỏi tính tồng hợp rất cao để có the đáp ứng nhu cầu. * KDKSphục vụ đa dạng đối tượng khách: Đối tượng phục vụ của khách sạn là khách du lịch với nhiều dân tộc, cơ cấu xà hội, nhận thức, sở thích, phong tục tập quán, lối sống khác nhau. Do đó KS cần nghiên cứu, nắm bắt yêu cầu của khách để thỏa mãn họ. Ỷ nghĩa của hoạt động kinh doanh khách sạn a) về kinh tế - Góp phần tăng GDP cho nền kinh tế: Thông qua việc tiêu dùng, đặc biệt là khách quốc tế đã góp phần thu hút ngoại tệ, ảnh hưởng tích cực đến cán cân thanh toán quốc gia.
- Tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước: Do KDKS đem lại đồng vốn đầu tư cao nên góp phần thu hút đươc nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, huy động được vốn nhàn rồi trong nhân dân. - Tác động đen sự phát triển của các ngành khác: Vì KS tiêu thụ một số lượng lớn sản phẩm cùa các ngành khác như ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, .Vì vậy, phát triển KDKS cũng khuyến khích các ngành khác phát triên theo. - Góp phần giải quyết một khối lượng lớn công ăn việc làm cho NLĐ: Do KDKS luôn đòi hỏi một dung lượng LĐ trực tiếp tương đối lớn. b) về xã hội - Góp phần nâng cao mức sống về vật chất và tinh thần cho người dân: Thông qua việc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi tích cực trong thời gian du lịch, KDKS góp phần phục hồi khả năng lao động và sức sản xuất.
- Tăng nhu cầu tìm hiếu di tích lịch sử văn hóa của đất nước và các thành tựu của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần giáo dục lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho the hệ trẻ. - Tạo điều kiện thuận lợi cho sự gặp gờ giao lưu giữa các quốc gia và dân tộc: Điều này làm tăng ý nghía vì mục đích hòa bình hữu nghị và tính đại đoàn kết giữa các dân tộc của kinh doanh du lịch nói chung và KDKS nói riêng. Khái niệm và đặc điểm quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn 1. Khải niệm quản trị nguồn nhân lực Trước tiên, cần hiêu nguồn nhân lực là “bao gồm toàn bộ dân cư có khá năng lao động, không phân biệt người đó đang được phản bổ vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội.
Theo “Giáo trình nguồn nhân lực” của tác giả Nguyền Tiệp (2005). ” [16; 6] Còn khái niệm ỌTNNL được trình bày theo nhiều quan điếm của nhiều tác giả khác nhau: Khái niệm về ỌTNNL được tác giả Nguyễn Văn Điềm (2007) cho rằng: “Quản trị nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và gìn giữ một lực lượng LĐ phù hợp với yêu cầu công việc của tô chức cả về mặt so lượng lẫn chất lượng.’’'’ [7; 26] Tác phẩm “Quản trị nguồn nhân lực” của tác giả Trần Kim Dung (2011) thì định nghĩa quản trị nguôn nhân lực là: “Hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tô chức nhằm đạt được kết quả toi ưu cho cả to chức lan NV. Còn tác giả Bùi Văn Danh (2019) trong cuốn “Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực” nêu khái niệm chung nhất ve QTNNL là “Toàn bộ công việc thiết kế các chính sách và thực hiện các lình vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giả trị hữu hiệu nhất cho tô chức.'” [3; 9] Vậy có thế đi đến nhận định rằng, QTNNL là một phần của hoạt động quản trị kinh doanh liên quan đến con người và công việc, các mối quan hệ LĐ làm cho họ có the đóng góp tốt nhất vào sự thành công của DN.