CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm về Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được thể chế hoá bằng pháp luật mà các thể nhân và pháp nhân phải thực hiện đối với Nhà nước nhằm tài trợ các nhu cầu chi tiêu công. Thuế không phải là nguồn thu ngân sách duy nhất nhưng là nguồn thu lớn và quan trọng.
Theo ước tính mới nhất từ International Centre for Tax and Development (ICTD), tổng thu từ thuế đóng góp hơn 80% tổng thu của chính phủ đối với một nửa các nước trên thế giới và đóng góp hơn 50% ở hầu hết các quốc gia. Có sự khác biệt lớn về mức đóng góp từ thuế vào tổng ngân sách của Chính phủ giữa các nước, đặc biệt là giữa các nước phát triển và đang phát triển. Các nước phát triển có tổng thu từ thuế cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển và chủ yếu từ thuế thu nhập. Ở các nước đang phát triển thì ngược lại, thu nhiều hơn từ các loại thuế thương mại, cũng như thuế tiêu thụ.
Để hiểu rõ thuế thu nhập là gì trước hết cần tìm hiểu về thu nhập: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nào đó nhận được trong nền kinh tế xã hội thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ lao động, tài sản hay đầu tư… Như vậy, thuế thu nhập là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các cá nhân hoặc các pháp nhân nhưng không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ. Thuế thu nhập đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu NSNN và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thuế thu nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ.
7 Thuế TNDN là sắc thuế được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Anh và Nhật Bản là những nước đầu tiên áp dụng sắc thuế này từ những năm khoảng giữa và cuối thế kỷ XIX, một số nước khác áp dụng vào khoảng đầu thế kỷ XX như Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô cũ, Trung Quốc,… Ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế Lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ năm 1953 đến trước ngày 1/1/1990. Giai đoạn từ 1/1/1990 đến trước ngày 1/1/1999 thuế Lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế. Năm 1997 Luật thuế TNDN đầu tiên được ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1999.
Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế TNDN đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh phù hợp với thực tiễn nước ta và thông lệ quốc tế. Ở các nước, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau như ở Thái Lan, Indonesia gọi là luật thuế thu nhập công ty; ở Pháp là luật thuế công ty; vv…Nhưng bản chất là tương đối giống nhau. Có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thuế thu nhập cá nhân vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có quan hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản thì sẽ dễ tiếp cận hơn. Không phải toàn bộ thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNDN.
Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Vì việc đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh nặng hay đánh nhẹ vào từng loại thu nhập là tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi Nhà nước về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụ thuộc vào khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuế cũng như mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt được để góp phần thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Điều này có nghĩa là, thuế TNDN là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước(NSNN). Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
8 Mặc dù tên gọi là thuế TNDN nhưng loại thuế này cũng áp dụng đối với thu nhập của các cá nhân, các cơ sở kinh doanh không thành lập theo luật doanh nghiệp và phần thu nhập chịu thuế là phần thu nhập còn lại sau khi đã khấu trừ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Bản chất của thuế TNDN được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế TNDN, người ta thấy thuế TNDN có những đặc trưng riêng để phân biệt với các sắc thuế và các công cụ tài chính khác như sau: - Thứ nhất, là một loại thuế mang tính chất trực thu thể hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng người nộp thuế và đối tượng chịu thuế.
NNT theo luật cũng là người trả thuế cuối cùng trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nói một cách khác, thuế TNDN làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác trở nên khó khăn hơn. - Thứ hai, thuế TNDN là một khoản chuyển giao của NNT cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, nó phân biệt thuế TNDN với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN.
Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc động viên mang tính bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế TNDN là một phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của doanh nghiệp được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT. - Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN được biểu hiện trên các khía cạnh.
Một là, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không 9 hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. NNT cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Hai là, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN không được hoàn trả trực tiếp, có nghĩa NNT suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. - Thứ tư, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN được quy định trước bằng pháp luật.
Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này không mang tính tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế TNDN. Những tiêu thức thường được xác định trong Luật thuế TNDN là đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN chịu những ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội trong những thời kỳ nhất định. Yếu tố kinh tế tác động đến thuế TNDN thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, giá cả, thị trường, sự biến động của NSNN… Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế TNDN thường là thể chế chính trị Nhà nước, tâm lý tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa… Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia và quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản.
Vai trò của Thuế thu nhập doanh nghiệp - Là khoản thu quan trọng của NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Trong đó, Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu ngân sách Nhà nước. Ở các nước phát triển, hai loại thuế này đã làm cho thuế trực thu 10 chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Ví dụ như năm 2012, Mỹ: thuế trực thu chiếm 74,8%, Nhật Bản chiếm 74%.
Còn ở hầu hết các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng thu ngân sách; ví dụ như: Philipin chiếm 60%; Thái Lan chiếm 66%; Ấn Độ 63%; Kênia: 61%; Gana: 65%. Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận.