CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢNG BIỂN VÀ NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CẢNG BIỂN 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp và cảng biển 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất. Do đó, hiểu sâu sắc về doanh nghiệp chính là cơ sở để nghiên cứu cấu trúc vốn một cách toàn diện hơn. Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải hoặc dịch vụ để bán.
Theo Luật Công ty Việt Nam được ban hành năm 1999, doanh nghiệp là các đơn vị kinh doanh thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường để đạt được mục đích sinh lời. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Khái niệm doanh nghiệp theo đó có thể được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo qui định của pháp luật, để đạt được những mục tiêu nhất định.2 Phân loại doanh nghiệp Dựa theo các tiêu thức khác nhau, chúng ta có nhiều cách phân loại doanh nghiệp như: Phân loại theo ngành nghề kinh doanh, hình thức pháp lý… * Theo ngành nghề kinh doanh 5 Trong nền kinh tế, có thể phân thành một số loại hình doanh nghiệp cơ bản: Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp – thủy sản, thương mại – dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng và các doanh nghiệp khác (như tài chính, bảo hiểm…). * Theo hình thức pháp lý Luật doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 có nêu: xét về hình thức pháp lý có một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Công ty tư nhân.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: bao gồm 2 dạng Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. - Công ty Nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước. - Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà trong đó: + Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần.
+ Cổ đông có trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. + Cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết. + Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông không hạn chế về số lượng tối đa nhưng tối thiểu là ba. - Công ty hợp danh là Công ty mà: + Có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh).
Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; + Thành viên hợp danh phải là cá nhân và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; 6 + Thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó đã góp vào công ty. - Công ty tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đối với phân loại doanh nghiệp theo hình thức pháp lý cho thấy được sự khác nhau trong các cách thức tổ chức huy động vốn, từ đó cũng ảnh hưởng đến việc điều chỉnh cấu trúc vốn của các loại hình doanh nghiệp.2 Khái niệm về cảng biển Vận tải biển (hàng hải) là một trong những bộ phận của ngành sản xuất vận tải. Mặc dù có những đặc trưng khác biệt với các phương thức vận tải khác nhưng nó không thể không gắn liền một cách thống nhất với các phương thức đó.
Vận tải biển đóng vai trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hóa ngoại thương. - Khái niệm doanh nghiệp cảng biển: Theo Điều 57 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam (1990) thì cảng biển là cảng được mở ra để tàu ra, vào hoạt động. Theo định nghĩa của Quy chế Gionevo ngày 9/12/1923 thì “Những cảng thường thường có tàu biển ra vào và dùng cho ngoại thương được gọi là cảng biển”. Như vậy, chỉ những cảng nào có tàu biển thường xuyên ra vào và dùng cho buôn bán, trao đổi hàng hóa ngoại thương mới được gọi là cảng biển.
Cảng biển là một bộ phận lãnh thổ quốc gia và hoàn toàn thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, có quy chế pháp lý như nội thủy. Ngoài ra Cảng biển còn có thể hiểu là tổng hợp những công trình và phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật nhằm đảm bảo cho tàu thực hiện công tác xếp dỡ hàng hóa và các công việc khác, là đầu mối giao thông quan trọng của một nước. Doanh nghiệp cảng biển là doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ khai thác cảng biển bao gồm dịch vụ chính là xếp dỡ hàng hóa và một số dịch vụ liên quan đến hàng hóa như phân phối, giám sát việc vận chuyển hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng – trở thành trung tâm logistics.3 Quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cảng biển Hình 1.1 Phương án công nghệ nhập xuất hàng container tại cảng 8 Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ bốc xếp hàng tổng hợp. - Quy trình sản xuất kinh doanh của cảng bao gồm các bước sau: Tiếp nhận tàu đến => Xếp dỡ hàng hóa => Giải phóng tàu => Lưu giữ/Giải phóng hàng hóa - Khu vực xếp dỡ hàng hóa tại cảng bao gồm: + Khu vực cầu bến: chuyển tải hàng hóa trực tiếp từ tàu lên bờ và ngược lại.
+ Khu vực kho bãi: nơi lưu trữ kho, bảo quản hàng hóa. Nơi đây hàng hóa được bảo quản trước khi xếp lên tàu để vận chuyển hoặc xếp lên xe để ra khỏi cảng. + Khu vực chuyển tải: là vùng nước cảng biển cho phép tàu thuyền neo đậu để chuyển tải hàng hóa, hành khách. - Các tác nghiệp chính tại cảng: 9 Hình 1.3 Các tác nghiệp xếp dỡ hàng 1- Tàu – cẩu tàu – xe nâng vào bãi 2- Tàu – cẩu tàu – đầu kéo – xe nâng/hạ bãi 3- Tàu – cẩu bờ – xe nâng vào bãi 4- Tàu – cẩu bờ – đầu kéo – xe nâng/hạ bãi 5- Tàu – cẩu tàu – xe vận chuyển của chủ hàng – ra khỏi cảng 6- Tàu – cẩu bờ – xe vận chuyển của chủ hàng – ra khỏi cảng 7- Ngoài ra nếu xếp dỡ hàng tại các khu vực chuyển tải là các vùng nước tại cảng, còn có phương án: Tàu – cẩu tàu – sà lan và ngược lại.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực kinh doanh dịch vụ khai thác cảng 1.1 Khái niệm về năng lực kinh doanh dịch vụ khai thác cảng Năng lực sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cảng biển là khả năng sử dụng các nguồn lực đã được kết hợp một cách có mục đích để đạt được doanh thu, lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.
Trong đó có nguồn lực hữu hình và vô hình. 10 Nguồn lực hữu hình là những tài sản của doanh nghiệp có thể nhìn thấy và định lượng được như: kho bãi, cầu cảng, trang thiết bị nâng hạ, nguồn nhân lực, văn phòng… Nguồn lực vô hình là những tài sản không thể nhìn thấy hay định lượng được như: tầm nhìn, trình độ của ban lãnh đạo, kiến thức; kỹ năng của đội ngũ cán bộ công nhân viên, mối quan hệ với khách hàng, các cơ quan quản lý nhà nước, nhận thức của người khác đối với doanh nghiệp, với dịch vụ của cảng.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực kinh doanh dịch vụ khai thác cảng 1.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật của cảng - Hệ thống cầu tàu là kết cấu cố định hoặc kết cấu nổi thuộc bến cảng được sử dụng cho tàu thuyền neo đậu, bốc dỡ hàng hóa, đón trả khách và thực hiện các dịch vụ khác. - Hệ thống bãi hàng là khu vực mặt bằng phía trong cầu cảng để lưu giữ container chờ xuất tàu hoặc giải phóng hàng ra khỏi cảng. - Hệ thống kho kín gồm kho CFS và kho ngoại quan để lưu giữ hàng hóa trong thời gian chờ xuất tàu hoặc chờ chủ hàng lấy hàng.
- Hệ thống thiết bị xếp dỡ tại cảng: + Cần trục giàn: là loại thiết bị chuyên dụng ở cầu tàu để xếp dỡ hàng container. Cần trục giàn cho hiệu quả xếp dỡ cao, an toàn và không gây ảnh hưởng đến khu vực xếp dỡ lân cận. Tuy nhiên tải trọng của cần trục giàn rất lớn nên cầu tàu phải có sức chịu lực lớn. + Cần trục chân đế: là loại cần trục dùng để xếp dỡ hàng hóa tại cầu cảng hoặc bãi hàng, có sức nâng từ Q = 3.2 tấn đến 40 tấn, chiều cao nâng H = 40 đến 60m.
Cần trục chân đế xếp dỡ được nhiều loại hàng khác nhau như container, hàng bao, hàng kiện, hàng rời…Tuy nhiên năng suất xếp dỡ không cao, khi làm hàng các cần trục phải quay 90 – 180 độ nên cần phải có khoảng cách an toàn. Ngoài ra tùy theo điều kiện thực tế và mục đích riêng của từng doanh nghiệp cảng biển có thể sử dụng các loại thiết bị nâng hạ, xếp dỡ hàng hóa phù hợp như cẩu bánh lốp, thiết bị xếp dỡ hàng rời chuyên dụng… 11 1.2 Lực lượng lao động của cảng Lực lượng lao động của doanh nghiệp cảng thường chia làm hai khối là khối sản xuất trực tiếp và khối sản xuất gián tiếp.