CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ðỘNG KIỂM TRA THUẾ ðỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA CƠ QUAN THUẾ 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ ðỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và ñặc trưng của Thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện ñối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất ñối giá và hoàn trả trực tiếp cho ñối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người ñịnh ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.
Thuế là một khoản thu chủ yếu của NSNN, ở nhiều nước tỷ lệ này thường chiếm trên 90% thu ngân sách nhà nước. So với một số khoản thu khác của nhà nước, Thuế có những ñặc trưng cơ bản sau: - Thuế phản ánh quan hệ phân phối của cải xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội - Thuế mang tính chất bắt buộc (cưỡng chế) trên nguyên tắc luật ñịnh, với mức thu và thời hạn nhất ñịnh. ðóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc chứ không phải là dựa vào sự tự nguyện của các tổ chức, cá nhân. Việc phân phối các khoản thu nhập thông qua thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước.
Nhà nước dựa vào quyền lực chính trị của mình ấn ñịnh các sắc thuế, bắt buộc người nộp thuế phải thực hiện ñể ñảm bảo nguồn thu ổn ñịnh và thường xuyên, ñáp ứng yêu cầu chi tiêu công cộng. - Thuế không có ñối giá trực tiếp. Nộp thuế cho Nhà nước không giống như việc chi tiền ñể mua hàng hoá, dịch vụ; mà nộp thuế là một nghĩa vụ xã hội, công dân không ñược trốn tránh 7 và cũng không ñược quyền ñòi hỏi ñối giá như việc mua bán hàng hoá, dịch vụ. Cần lưu ý rằng mặc dù không ñối giá trực tiếp nhưng mọi khoản thuế sẽ quay lại với người nộp thuế bằng nhiều con ñường khác nhau thông qua các khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước.
Do ñó, người ta còn gọi thuế là mang tính chất không hoàn trả trực tiếp, tức là hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ, các loại hàng hoá công của Nhà nước cung ứng người dân không phải trả tiền. Với sự xuất hiện và phát triển của Kinh tế học công cộng và khoa học về Tài chính công, các nghiên cứu sâu hơn về các ñặc trưng của hàng hóa, dịch vụ công cộng cho phép ñưa ra một cách lý giải cụ thể hơn về bản chất của phạm trù thuế trong tương quan với quá trình sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng và sự khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí. Theo ñó, thuế, phí và lệ phí ñều là những phương thức mà Nhà nước sử dụng ñể thu hồi chi phí sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng cho các cá nhân và tổ chức. Sự khác nhau giữa Thuế, phí và lệ phí theo cách tiếp cận này là ở những ñiểm sau: - Phí là khoản thu từ các ñối tượng thụ hưởng những hàng hóa, dịch vụ công cộng không thuần túy, tức là những hàng hóa và dịch vụ không thỏa mãn ñầy ñủ tất cả các tính chất của hàng hóa, dịch vụ công cộng.
Chẳng hạn, những hàng hóa, dịch vụ tuy việc sử dụng là có tính chất công cộng nhưng việc sử dụng của người này có ảnh hưởng ñến việc sử dụng của người khác hoặc có thể sử dụng các biện pháp ñể loại trừ việc sử dụng thì có thể hoặc tư nhân hóa việc sản xuất và cung ứng chúng hoặc nếu ñược cung ứng bởi Nhà nước thì Nhà nước có thể thu phí trên những người thụ hưởng ñể bù ñắp một phần hoặc toàn bộ chi phí. Như vậy, phí là khoản thu của nhà nước từ những người thụ hưởng các hàng hóa, dịch vụ công cộng không thuần túy do Nhà nước cung cấp nhằm bù ñắp chi phí sản xuất và cung ứng của Nhà nước. 8 - Thuế, trái lại là khoản thu của nhà nước không liên quan trực tiếp ñến việc thụ hưởng các hàng hóa, dịch vụ công cộng. Như vậy, thuế chính là khoản thu của nhà nước ñối với các cá nhân, tổ chức nhằm bù ñắp chi phí sản xuất và cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cộng thuần túy và tất cả phần thâm hụt trong chi phí sản xuất và cung ứng các hàng hóa và dịch vụ công cộng không thuần túy.
- Lệ phí cũng là một khoản thu liên quan trực tiếp ñến việc thụ hưởng các dịch vụ công cộng của người nộp nhưng khác phí ở 2 ñiểm: + Lệ phí liên quan ñến các dịch vụ hành chính, pháp lý của các cơ quan công quyền + Lệ phí ít có giá trị kinh tế mà chủ yếu có ý nghĩa quản lý, kiểm soát 1. Vai trò của Thuế Thuế có 2 chức năng cơ bản là: chức năng huy ñộng tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng ñiều tiết kinh tế - xã hội. Các chức năng này ñược vận dụng như thế nào trong thực tiễn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong ñó vai trò của Nhà nước là vô cùng quan trọng. Vai trò kinh tế - xã hội của thuế gắn liền chặt chẽ với vai trò của Nhà nước theo lịch sử phát triển.
Có thể nêu 3 vai trò kinh tế - xã hội của thuế trong xã hội hiện ñại như sau: a. Vai trò tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước Ở phần lớn các nước, tỷ trọng thu từ thuế trong ngân sách nhà nước ñều rất cao. Ở Việt Nam, ngoài các khoản thu từ lệ phí, phí, lợi tức cổ phần của Nhà nước tại các công ty cổ phần, tiền cho thuê hoặc bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thu hợp tác lao ñộng với nước ngoài, thu vay nợ, viện trợ nước ngoài. khoản thu từ thuế ñã ngày càng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách.
Chẳng hạn, dự toán thu ngân sách năm 2010, ñặt ra mục tiêu huy ñộng 9 ñạt trên 21% GDP, trong ñó, nêu mục tiêu tổng thu từ thuế và phí ñạt trên 20% GDP. Về phương diện quản lý kinh tế vĩ mô, thuế ñược xem là một công cụ rất quan trọng; là bộ phận chủ yếu của chính sách tài khoá, có những tác ñộng rất to lớn ñến trạng thái và những mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Thuế có ảnh hưởng lớn ñến quá trình ñầu tư và gia tăng sản lượng của nền kinh tế, ñến chính sách chống chu kỳ, ñến quan hệ cung cầu, giá cả, lạm phát, thất nghiệp và cơ cấu ñầu tư theo những cơ chế phức tạp, tinh vi. ðặc biệt, thuế có ảnh hưởng rất lớn ñến hoạt ñộng xuất nhập khẩu nói riêng, kinh tế ñối ngoại nói chung của một quốc gia.
Về phương diện xã hội, thuế có tác ñộng rất to lớn ñến việc thực hiện công bằng xã hội, góp phần rất quyết ñịnh trong việc ñiều hoà thu nhập, phân phối lại lợi ích phát triển giữa các bộ phận trong một quốc gia. Sự xuất hiện Nhà nước là nguyên nhân xuất hiện thuế với tính cách là một công cụ của Nhà nước nhằm ñáp ứng những nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Quá trình hình thành và phát triển thuế về cả 2 mặt nhận thức và thực tiễn gắn với sự phát triển của Nhà nước và các hoạt ñộng kinh tế - xã hội. Sự phát triển của thuế có thể khái quát ở những ñiểm chủ yếu sau: - Về hình thức nộp thuế: Từ nộp thuế bằng ngày công và sản phẩm ñến nộp thuế bằng tiền (dưới các hình thức khác nhau theo sự phát triển của các hình thái tiền tệ).
- Về tính chất của thuế: Thuế ngày càng ñược dân chủ hoá; tính công bằng và tính pháp quyền ngày càng cao. Mặt khác nhận thức về thuế ngày càng ñược gia tăng theo chiều hướng không những gia tăng hiệu năng ñộng viên của thuế cho ngân sách Nhà nước mà còn theo hướng bảo ñảm những tác ñộng tối ưu của thuế ñến những hoạt 10 ñộng kinh tế - xã hội không những trong phạm vi từng quốc gia mà còn trong phạm vi liên quốc gia và toàn cầu. - Về vai trò cuả thuế: Từ chỗ chỉ là công cụ tạo nguồn thu nhằm tài trợ cho những chức năng ñối nội và ñối ngoại của những Nhà nước chuyên chế ñến chỗ mở rộng vai trò của thuế là một công cụ phân phối lại thu nhập, công cụ ñiều tiết hoạt ñộng kinh tế - xã hội, công cụ tài trợ cho các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Về phương diện tổ chức hành thu (tổ chức việc thu thuế) cũng ñã có những tiến bộ rất to lớn.
Việc tổ chức hành thu ngày càng hiện ñại và văn minh. Có bộ máy thu thuế riêng, người nộp thuế ñược hoàn toàn tự do chọn nơi cư trú. Cơ cấu hệ thống thuế Tập hợp có tính hệ thống các hình thức thuế (các sắc thuế) của một Nhà nước trong một thời kỳ nhất ñịnh gọi là hệ thống thuế. Tính hệ thống ở ñây ñược hiểu là: - Các hình thức (kiểu, loại .) thuế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như là những thành phần của một hệ thống, chứ không phải là những yếu tố rời rạc, riêng lẻ.
- Có cùng mục tiêu. - ðược thiết kế dựa trên cùng một nguyên tắc nhất ñịnh. Hệ thống thuế ñược xây dựng nhằm ñáp ứng các mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ và dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: - Nguyên tắc công bằng - Nguyên tắc hiệu quả - Nguyên tắc rõ ràng - Nguyên tắc thuận tiện 11 Hệ thống thuế ñược phân loại thành các nhóm theo một tiêu chí nhất ñịnh. Thông thường, có những cách phân loại chủ yếu sau: a.
Căn cứ vào tác ñộng danh nghĩa, hay khả năng chuyển thuế danh nghĩa Thuế ñược phân thành 2 loại là thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu: Là loại thuế mà người nộp thuế ñồng thời là người chịu thuế. Các loại thuế thu nhập ñều là thuế trực thu. Về mặt pháp lý, thuế trực thu ñược xem như một món nợ của người chịu thuế ñối với Nhà nước.
Vì vậy, sự thiếu thuế ñược xem như một quan hệ dân sự, trừ trường hợp có sự gian lận. Thuế gián thu: Là loại thuế mà người nộp thuế không phải là người chịu thuế theo luật. Thông thường, thuế gián thu là các loại thuế ñánh vào người tiêu thụ do người kinh doanh nộp.