Tổng quan luận án
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự giữ vị trí nền tảng trong toàn bộ tiến trình tố tụng hình sự (TTHS). Kết quả của hoạt động điều tra do Cơ quan điều tra (CQĐT) tiến hành là cơ sở quyết định chất lượng buộc tội của Viện kiểm sát (VKS) và tạo tiền đề cho hoạt động xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ vi phạm pháp luật và sai sót tố tụng, có thể dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Trong bối cảnh cải cách tư pháp theo các Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, yêu cầu đặt ra là phải "tăng cường trách nhiệm của VKS trong hoạt động điều tra; xây dựng cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra".
Mặc dù hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát điều tra (KSĐT) của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) đã đạt được những kết quả cụ thể như tỷ lệ bắt giữ chuyển xử lý hình sự đạt 96%, tỷ lệ truy tố đạt 98% - 99%, thực tiễn giai đoạn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Hoạt động quản lý tố giác, tin báo về tội phạm ở một số địa phương còn thụ động, lúng túng về phương thức kiểm sát, tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm;
- Tình trạng đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội vẫn xảy ra (chiếm khoảng 0,14% tổng số án thụ lý khởi tố, điều tra hàng năm từ 2004 đến 2013);
- Tình trạng truy tố chưa chính xác dẫn đến việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội (532 trường hợp trong 10 năm, chiếm 0,05% tổng số bị can bị khởi tố, điều tra);
- Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung còn cao (22.262 vụ, chiếm 3,8% trên tổng số 584.457 vụ VKS đã truy tố trong 10 năm; riêng các đơn vị nghiệp vụ VKSND tối cao bị Tòa án cấp tỉnh trả hồ sơ trong các năm 2008 và 2009 lên tới 44,5%);
- Hoạt động kiểm sát ở một số đơn vị còn mang tính hình thức, nặng về kiểm tra thủ tục, chưa phân tích sâu bản chất vi phạm;
- Công tác kiến nghị phòng ngừa tội phạm ở cả ba cấp kiểm sát còn hạn chế.
Trước tình hình tội phạm tham nhũng, tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia và tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp, tác giả lựa chọn đề tài "Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp" làm luận án tiến sĩ luật học.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng về tổ chức và hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Luận án xác định và giải quyết 05 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự có những vấn đề gì cần nghiên cứu để đảm bảo tính nhất quán trong nhận thức và thực hiện?
- Ưu điểm và hạn chế của truyền thống tổ chức, hoạt động của VKSND Việt Nam là gì và những kinh nghiệm của thế giới có tính khả thi đối với Việt Nam trong việc tổ chức, hoạt động của cơ quan công tố nhằm thực hiện cải cách để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự như thế nào?
- Mục đích, yêu cầu, nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đối với nền tư pháp nói chung và đối với VKS trong điều tra vụ án hình sự là gì?
- Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, hoạt động THQCT và KSĐT vụ án hình sự có những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nào?
- Những phương hướng, nội dung, giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động THQCT và KSĐT vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp là gì?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án là: Trong nhận thức chung và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện nay, còn tồn tại sự thiếu thống nhất, mâu thuẫn về các khái niệm cơ bản như quyền công tố (QCT), hoạt động tư pháp (HĐTP), thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát hoạt động tư pháp (KSHĐTP) và mối quan hệ giữa THQCT và KSHĐTP; từ đó dẫn đến việc quy định thẩm quyền chưa hợp lý trong BLTTHS năm 2003, làm giảm hiệu quả hoạt động kiểm sát trên thực tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của VKSND theo quy định của BLTTHS năm 2003 trong điều tra vụ án hình sự (thực hiện chức năng THQCT và KSHĐTP của người tiến hành tố tụng thuộc VKS).
- Phạm vi nội dung: Hoạt động của VKSND từ khi tiến trình điều tra vụ án hình sự được khởi động hoặc tái khởi động (quyết định khởi tố vụ án, trả hồ sơ điều tra bổ sung, phục hồi điều tra, điều tra lại) cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra (kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn hoạt động trong 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003, từ năm 2004 đến năm 2013.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào 04 địa bàn trọng điểm có số lượng án hình sự thụ lý hàng năm lớn gồm: thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai (kết hợp khảo sát mở rộng tại tỉnh Long An).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề vị trí, chức năng của cơ quan công tố trong tố tụng hình sự đã được nhiều học giả trong và ngoài nước tiếp cận dưới các góc độ khác nhau:
Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Qua nghiên cứu BLTTHS của Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Ý và Hàn Quốc, các học giả ghi nhận sự xuất hiện của mô hình TTHS kết hợp, dung hòa các ưu điểm của hai mô hình tranh tụng và thẩm vấn tùy theo điều kiện chính trị, xã hội của từng quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế được tác giả tiếp thu có chọn lọc qua các nguồn tư liệu:
- Khóa học ngắn hạn do Viện Phòng ngừa Tội phạm và Xử lý Người phạm tội Khu vực Châu Á và Viễn Đông của Liên Hợp Quốc (UNAFEI) tổ chức tại Nhật Bản năm 2009 về "Luật và Đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, Công tố viên và các nhân viên thực thi pháp luật" (Ethics and Codes of Conduct for Judges, Prosecutors and Law Enforcement Officers);
- Các hội thảo khoa học về cải cách tư pháp và sửa đổi BLTTHS năm 2003 do Viện Khoa học kiểm sát tổ chức với sự tài trợ của tổ chức SIDA (năm 2012);
- Hội thảo phòng, chống tiêu cực trong HĐTP do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 03/4/2014 dưới sự tài trợ của Chương trình Đối tác Tư pháp Liên minh Châu Âu.
Tình hình nghiên cứu trong nước:
- Các đề tài khoa học cấp bộ và kỷ yếu: Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ của Viện Khoa học VKSND tối cao (1999); công trình "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" của Lê Hữu Thể và các tác giả (2008); Đề tài khoa học cấp bộ "Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp" (2008); Đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp" (2011); công trình của Nguyễn Hải Phong và các tác giả về tăng cường trách nhiệm công tố trong điều tra.
- Các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và Tạp chí Kiểm sát: Lý Văn Chính (2005), Đỗ Văn Đương (2006, 2012), Lê Văn Cảm (2009), Trần Công Phàn (2012), Trịnh Tiến Việt (2012), Hoàng Nghĩa Mai (2012), Lê Thị Tuyết Hoa (2012, 2014), Nguyễn Hòa Bình (2012), Nguyễn Thị Thủy (2012), Nguyễn Thái Phúc (2012), Trần Văn Độ (2012), Trần Đình Nhã (2012), Đào Trí Úc (2013), Lê Đức Xuân và Phạm Lan Phương (2013).
- Các báo cáo tổng kết và chuyên đề nghiệp vụ của VKSND tối cao: Báo cáo tổng kết 50 năm ngành Kiểm sát nhân dân (2010); Báo cáo kết quả tổng kết 8 năm thi hành BLTTHS năm 2003 (2012); các chuyên đề nghiệp vụ của Vụ Án an ninh (2007), Vụ Án ma túy (2008), Vụ Án trật tự xã hội (2008, 2011), Vụ Án tham nhũng (2009), Vụ Án kinh tế và chức vụ (2009).
- Các luận văn, luận án liên quan: Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Xuân Nhuệ (1996), Đoàn Tạ Cửu Long (2000), Võ Phước Long (2007), Đoàn Tấn Minh (2008), Nguyễn Văn Tấn (2008); Luận án tiến sĩ của Đào Hữu Dân (2006), Nguyễn Thị Mai Nga (2012).
- Các chuyên đề nghiên cứu riêng của nghiên cứu sinh: "Cơ sở khoa học của hoạt động THQCT và KSHĐTP trong điều tra hình sự" (2010); "Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng hoàn thiện hoạt động THQCT, KSHĐTP trong điều tra hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp" (2011); "Thực trạng hoạt động của VKS trong điều tra hình sự" (2011).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn mang tính khái quát toàn diện toàn bộ các giai đoạn TTHS, hoặc quá chuyên sâu vào từng loại tội phạm cụ thể, thiên về diễn giải quy trình nghiệp vụ kiểm sát mang tính mô phạm. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc nghiên cứu trực diện, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự dưới góc độ của một quan hệ pháp luật, chỉ ra các bất cập của BLTTHS năm 2003 qua 10 năm áp dụng thực tế (2004 - 2013) để phục vụ trực tiếp cho tiến trình cải cách tư pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm:
- Khái niệm điều tra và điều tra vụ án hình sự: Điều tra theo nghĩa chung là hoạt động nhận thức nhằm tìm hiểu, xác định sự thật; trong luật TTHS, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng mà CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng các biện pháp luật định để thu thập chứng cứ, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.
- Quyền công tố (QCT) và Thực hành quyền công tố (THQCT): QCT là quyền của Nhà nước trong việc buộc tội đối với người phạm tội. QCT phát sinh từ thời điểm tội phạm xảy ra và chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật. THQCT là việc VKS sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện sự buộc tội đó.
- Hoạt động tư pháp (HĐTP) và Kiểm sát hoạt động tư pháp (KSHĐTP): HĐTP là hoạt động của các cơ quan tư pháp và cơ quan bổ trợ tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án; KSHĐTP là hoạt động của VKS nhằm kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong HĐTP, bảo đảm pháp chế được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.
- Khung phân loại hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra: Luận án xây dựng khung phân loại 03 nhóm hoạt động THQCT căn cứ vào mục đích tố tụng: (1) Nhóm các hoạt động có tính chất quyết định việc phát động tiến trình điều tra; (2) Nhóm các hoạt động có tính chất quyết định việc duy trì hoạt động điều tra; (3) Nhóm các hoạt động mang tính chất củng cố, tăng cường hiệu quả buộc tội.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu tham khảo: Phân tích, tổng hợp, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp 1980, 1992, 2013; BLTTHS 1988, 2003; Luật Tổ chức VKSND 1992, 2002, 2014) và các công trình khoa học chuyên ngành;
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát lấy ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, Lãnh đạo VKS hai cấp tại các địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An;
- Phương pháp phân tích định tính và định lượng: Đánh giá số liệu thống kê ngành Kiểm sát trong giai đoạn 10 năm (2004 - 2013) để chứng minh các luận điểm thực tiễn.
Nguồn tư liệu, dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát hàng năm của VKSND tối cao (2004 - 2013), số liệu của Cục Thống kê VKSND tối cao, các báo cáo tổng kết chuyên đề và kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra xã hội học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nhận thức chung về hoạt động của viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự
Chương 1 tập trung phân tích hệ thống các khái niệm lý luận cơ bản:
- Bản chất của điều tra vụ án hình sự:
- Phân biệt điều tra với tư cách là một giai đoạn tố tụng và điều tra với tư cách là hoạt động tố tụng. Phân biệt giai đoạn khởi tố vụ án (điều tra ban đầu) với giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
- Tổng hợp các nhiệm vụ của giai đoạn điều tra gồm 05 nhóm: (1) Xác định diện bị can; (2) Thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh làm rõ toàn bộ vụ án (các dấu hiệu định tội, định khung, tăng nặng, giảm nhẹ, loại trừ TNHS); (3) Xác định diện bị can cần truy tố và đề nghị VKS truy tố; (4) Xây dựng kết luận điều tra và hoàn thiện hồ sơ vụ án; (5) Tiến hành các biện pháp cưỡng chế và biện pháp tố tụng cần thiết phục vụ xử lý tội phạm.
- Xác định 05 đặc điểm cơ bản của hoạt động điều tra vụ án hình sự: (1) Tiến hành công khai theo trình tự tố tụng nhưng bảo đảm bí mật về nội dung; (2) Phạm vi chứng minh thực tế rộng hơn phạm vi luật định; (3) Thường áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS tiềm ẩn nguy cơ hạn chế quyền công dân; (4) Là hoạt động thu thập chứng cứ phục vụ cho chức năng buộc tội; (5) VKS vừa thực hiện chức năng THQCT vừa KSĐT, đòi hỏi kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu pháp luật, yêu cầu chính trị và yêu cầu nghiệp vụ.
- Phân tích 08 hoạt động điều tra cụ thể: hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng và người tham gia tố tụng khác; khám xét; thu giữ thư tín, bưu phẩm; khám nghiệm (hiện trường, tử thi); xem xét dấu vết trên thân thể; thực nghiệm điều tra; trưng cầu giám định.
- Hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra:
- Luận giải cơ sở Hiến định của hai chức năng THQCT và KSHĐTP.
- Phân tích khái niệm quyền công tố, phân biệt công tố với tư tố, xác định phạm vi THQCT bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Phân tích hình thức thể hiện của THQCT: quyết định pháp luật cá biệt của Viện trưởng/Phó Viện trưởng, biên bản trực tiếp điều tra, công văn đề ra yêu cầu điều tra và hành vi, lời nói của Kiểm sát viên.
- Phân tích sự bất cập trong cách phân định tại Điều 112 BLTTHS năm 2003 (bao gồm 6 nhóm hoạt động), chỉ ra việc quy định quyền yêu cầu thay đổi Điều tra viên vào nhóm THQCT là chưa phù hợp với bản chất buộc tội, cũng như việc đưa các quyền năng thuộc giai đoạn quyết định việc truy tố (Chương XV) vào giai đoạn điều tra.
- Đối chiếu với Điều 14 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 (quy định 11 nhóm hoạt động THQCT) và hệ thống hóa nội dung THQCT trong giai đoạn điều tra thành 03 nhóm căn cứ theo mục đích tố tụng:
- Các hoạt động có tính chất quyết định việc phát động tiến trình điều tra;
- Các hoạt động có tính chất quyết định việc duy trì hoạt động điều tra;
- Các hoạt động mang tính chất củng cố, tăng cường hiệu quả buộc tội.
- Phân tích bản chất của KSHĐTP và KSĐT: Khẳng định KSĐT là một bộ phận của KSHĐTP; xác định chủ thể, đối tượng, phạm vi và các hình thức kiểm sát (trực tiếp tham gia tố tụng, kiểm sát hồ sơ, ban hành quyết định, kiến nghị, yêu cầu).
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự
Chương 2 trình bày các dữ liệu thực tế và đánh giá thực trạng áp dụng quy định của BLTTHS năm 2003 trong giai đoạn 2004 - 2013:
Bảng tổng hợp số liệu công tác kiểm sát trong giai đoạn 2004 - 2013:
| Chỉ số / Tiêu chí đánh giá | Số liệu / Tỷ lệ thực tế | Nguồn trích xuất |
|---|---|---|
| Tỷ lệ bắt giữ chuyển xử lý hình sự | Đạt 96% | Báo cáo ngành |
| Tỷ lệ quyết định truy tố | Đạt 98% - 99% | Báo cáo ngành |
| Tỷ lệ đình chỉ điều tra do bị can không phạm tội | Khoảng 0,14% tổng số án thụ lý khởi tố, điều tra hàng năm | Báo cáo Tổng kết công tác kiểm sát (2004 - 2013) |
| Số bị can bị VKS truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội | 532 trường hợp (tỷ lệ 0,05% tổng số bị can khởi tố, điều tra) | Cục Thống kê VKSND tối cao |
| Số vụ án Tòa án các cấp trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung | 22.262 vụ (chiếm 3,8% trên tổng số 584.457 vụ VKS đã truy tố) | Báo cáo Tổng kết công tác kiểm sát (2004 - 2013) |
| Tỷ lệ án Tòa án cấp tỉnh trả lại các đơn vị nghiệp vụ VKSND tối cao | Lên tới 44,5% trong các năm 2008 và 2009 | Báo cáo Tổng kết công tác kiểm sát |
Các hạn chế, yếu kém thực tiễn được luận án chỉ ra:
- Hoạt động tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm của VKS ở một số địa phương còn mang tính thụ động;
- Việc lạm dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam còn diễn ra phổ biến;
- Chất lượng kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can chưa đồng đều giữa các cấp;
- Hoạt động KSĐT còn mang nặng tính hình thức, tập trung vào phát hiện vi phạm thủ tục mà chưa đi sâu vào đánh giá giá trị chứng minh của chứng cứ;
- Công tác kiến nghị phòng ngừa tội phạm ở cả ba cấp kiểm sát chưa gắn liền với phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội và đặc điểm tội phạm học.
Chương 3: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp
Chương 3 đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra:
- Định hướng hoàn thiện:
- Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết 08-NQ/TW, 48-NQ/TW, 49-NQ/TW: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra;
- Tiếp thu các giá trị hợp lý của mô hình tố tụng kết hợp (tranh tụng và thẩm vấn), bảo đảm phù hợp với thể chế chính trị và điều kiện thực tiễn Việt Nam.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức: Sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 và Luật Tổ chức VKSND năm 2002; khắc phục sự phân định chưa hợp lý tại Điều 112 BLTTHS năm 2003; luật hóa đầy đủ thẩm quyền của VKS trong việc phê chuẩn, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân;
- Đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ: Kiểm sát viên chủ động kiểm sát ngay từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; trực tiếp tham gia các hoạt động điều tra ban đầu và các hoạt động điều tra trọng yếu (khám nghiệm hiện trường, tử thi, hỏi cung bị can); nâng cao chất lượng văn bản yêu cầu điều tra;
- Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Kiểm sát viên: Tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng điều tra và đạo đức nghề nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế; đổi mới công tác đánh giá cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm sát.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ nội hàm khoa học của các khái niệm: quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp và kiểm sát điều tra.
- Đề xuất tiêu chí phân loại mới đối với các quyền năng THQCT trong giai đoạn điều tra thành 03 nhóm hoạt động dựa trên mục đích tố tụng (phát động tiến trình điều tra, duy trì tiến trình điều tra, củng cố tăng cường hiệu quả buộc tội).
- Luận giải mối quan hệ biện chứng giữa hai chức năng THQCT và KSHĐTP trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị:
- Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 (2004 - 2013) trong công tác THQCT và KSĐT thông qua hệ thống số liệu thực tế của ngành Kiểm sát và kết quả điều tra xã hội học.
- Chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn trong các quy định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến thẩm quyền của VKS (đặc biệt là Điều 112).
- Đưa ra các kiến nghị cụ thể phục vụ việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 và xây dựng Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực tiễn tập trung chủ yếu vào hoạt động của CQĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân và VKSND tại 04 địa bàn trọng điểm (Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai), chưa khảo sát toàn diện hoạt động điều tra của các cơ quan chuyên biệt khác (Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm...).
- Việc tiếp cận trực tiếp với các công trình nghiên cứu chuyên sâu ở nước ngoài còn hạn chế do điều kiện nghiên cứu trong nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Đánh giá việc thi hành các quy định mới của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS sửa đổi sau năm 2013 trong thực tiễn điều tra vụ án hình sự;
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa trong các hoạt động điều tra chuyên biệt;
- Đánh giá sâu hơn về tác động của chuyển đổi số và công nghệ cao đối với hoạt động kiểm sát điều tra.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo về lý luận tố tụng hình sự, cung cấp phương pháp tiếp cận đánh giá chức năng của cơ quan công tố và hệ thống số liệu thực tiễn trong giai đoạn 2004 - 2013.
- Đối với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu: Tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Đại học Luật, Học viện Tư pháp, Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.
- Đối với cơ quan xây dựng pháp luật và cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp cơ sở thực tiễn và luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Tổ chức VKSND, BLTTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự), đồng thời cung cấp giải pháp nghiệp vụ cho Kiểm sát viên và Điều tra viên.
Câu hỏi thường gặp
-
Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung và số trường hợp Tòa án tuyên không phạm tội trong giai đoạn 2004 - 2013 được ghi nhận như thế nào? Trả lời: Trong 10 năm (2004 - 2013), Tòa án các cấp đã trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung là 22.262 vụ (chiếm tỷ lệ 3,8% trên tổng số 584.457 vụ VKS đã truy tố); số trường hợp VKS truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội là 532 trường hợp (chiếm tỷ lệ 0,05% tổng số bị can bị khởi tố, điều tra).
-
Tác giả phân chia hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra thành những nhóm nào? Trả lời: Dựa trên mục đích tố tụng cụ thể, tác giả phân chia hoạt động THQCT thành 03 nhóm: (1) Nhóm các hoạt động có tính chất quyết định việc phát động tiến trình điều tra; (2) Nhóm các hoạt động có tính chất quyết định việc duy trì hoạt động điều tra; (3) Nhóm các hoạt động mang tính chất củng cố, tăng cường hiệu quả buộc tội.
-
Phạm vi không gian và thời gian khảo sát thực tiễn của đề tài được giới hạn ra sao? Trả lời: Luận án khảo sát thực trạng trong thời gian 10 năm (2004 - 2013, giai đoạn thi hành BLTTHS năm 2003). Về không gian, nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc và tập trung khảo sát chuyên sâu tại 04 địa bàn trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai (có mở rộng khảo sát tại Long An).
-
Bất cập cơ bản của Điều 112 BLTTHS năm 2003 được luận án chỉ ra là gì? Trả lời: Luận án chỉ ra rằng Điều 112 BLTTHS năm 2003 quy định hoạt động yêu cầu thay đổi Điều tra viên vào nhóm THQCT là chưa phù hợp với bản chất buộc tội; đồng thời điều luật này còn quy định các quyền năng thuộc giai đoạn quyết định việc truy tố (Chương XV) như quyết định việc truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án vào giai đoạn điều tra.
Kết luận
Luận án "Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp" đã giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS năm 2003. Dựa trên số liệu thống kê thực tế giai đoạn 2004 - 2013 tại các địa bàn trọng điểm và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong văn bản luật và những tồn tại trong khâu tác nghiệp kiểm sát. Các luận điểm, phân loại và giải pháp được đề xuất trong luận án đã cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan công tố Việt Nam.