Chương 1: Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong kiểm soát xuất, nhập cảnh ở cửa khẩu đường bộ của Bộ đội Biên phòng. Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong kiểm soát xuất, nhập cảnh ở cửa khẩu đường bộ của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính trong kiểm soát xuất, nhập cảnh ở cửa khẩu đường bộ của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤCHÀNH CHÍNH TRONG KIỂM SOÁT XUẤT, NHẬP CẢNH Ở CỬA KHẨU ĐƢỜNG BỘ CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG 1.
Những vấn đề cơ bản về kiểm soát xuất, nhập cảnh của Bộ đội Biên phòng tại cửa khẩu đƣờng bộ 1. Xuất, nhập cảnh ở cửa khẩu đường bộ Trong quá trình phát triển xã hội, sự phân công lao động và xuất hiện tư hữu đã thúc đẩy trao đổi, mua bán các sản phẩm sản xuất giữa những người dân, nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và gia đình họ. Khi Nhà nước ra đời và hình thành lãnh thổ quốc gia theo địa giới hành chính, các cá nhân công dân thuộc về những quốc gia nhất định và họ phải tuân thủ những luật lệ, chính sách của Nhà nước. Nhà nước ban hành và sử dụng công cụ chính sách, pháp luật để quản lý xã hội, nhằm mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế, xã hội.
Khi phân công lao động xã hội càng phát triển, đến giai đoạn nhất định, nhu cầu trao đổi, buôn bán không hạn chế về không gian mà mở rộng ra phạm vi các vùng lãnh thổ thuộc các quốc gia khác. Điều đó làm nảy sinh những thách thức trong quản lý nhà nước, khi mà công dân các nước khác nhau cần đi lại, buôn bán với nhau ngày càng nhiều nhưng lại khác biệt về văn hóa, pháp luật, thậm chí có sự xung đột giữa lợi ích công với lợi ích tư. Mỗi quốc gia đều có chế độ chính trị và thể chế quản lý xã hội theo những phương thức không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, dù vận dụng cách thức quản lý nào thì hầu hết các quốc gia đều hướng tới mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế, xã hội.
Để vừa khuyến khích phát triển giao thương, vừa quản lý xã hội một cách ổn định, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và phát triển trong sự tiếp nhận công dân, phương tiện nước ngoài nhập cảnh, các nước thường tiến hành thủ tục xuất, nhập cảnh. 8 Người dân sống trong một quốc gia nhất định sẽ thuộc diện kiểm soát của Nhà nước thông qua thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân, hộ tịch, hộ khẩu, hay các giấy tờ khác. Khi công dân vi phạm pháp luật, tuỳ theo mức độ vi phạm họ sẽ bị xử lý hành chính, hay hình sự, thuộc diện kiểm soát của chính quyền địa phương, và các cơ quan chức năng ở Trung ương. Những người đang chấp hành hình phạt thì có thể chịu sự quản thúc và cưỡng chế phù hợp.
Những công dân có nhân thân không tốt, họ xuất cảnh, nhập cảnh vào quốc gia khác có thể tạo ra mối nguy hiểm cho nước nhập cảnh, hoặc cản trở quá trình bảo vệ pháp luật tại quốc gia đang phát lệnh truy nã đối với hành vi xuất cảnh của người nào đó. Sự xuất hiện của họ ở một quốc gia mới cũng cần có sự kiểm soát, nhằm ngăn chặn, giảm thiểu các nguy cơ xâm hại lợi ích nước sở tại. Trong xu thế hội nhập sâu rộng, lưu lượng xuất, nhập cảnh ngày càng tăng mạnh, là điều kiện để các loại tội phạm gia tăng hoạt động với nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau, phá hoại an ninh trật tự và sự ổn định chính trị đất nước đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường kiểm soát đối với người, phương tiện, hàng hóa xuất, nhập cảnh. Xuất cảnh là việc người, phương tiện ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia nhất định và qua cửa khẩu của quốc gia đó.
Xuất cảnh bao gồm người nước ngoài đang ở tại quốc gia đó, người mang quốc tịch trong nước của quốc gia. Nhập cảnh là việc người, phương tiện vào lãnh thổ của một quốc gia nhất định và qua cửa khẩu của quốc gia đó. Nhập cảnh bao gồm người nước ngoài, người mang quốc tịch trong nước của một quốc gia. Như vậy, đối tượng xuất nhập cảnh bao gồm nhiều loại, kể cả người, hàng hóa và phương tiện.Vì vậy, Nhà nước phải xác định địa điểm và xây dựng các cửa khẩu vừa đảm bảo sự thuận lợi cho XNC, vừa đảm bảo sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước.
Hoạt động tổ chức quản lý XNC phải được thực hiện thông qua bộ máy quản lý có chuyên môn, nghiệp. Bộ máy quản lý XNC áp dụng quy định pháp luật và nghiệp vụ, phương tiện hỗ trợ để thực hiện thủ 9 tục xuất, nhập cảnh nhằm kiểm soát hành vi của người xuất, nhập cảnh, các phương tiện XNC, để vừa bảo đảm quyền tự do thương mại, du lịch.phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an ninh, trật tự và lợi ích quốc gia. Cũng cần lưu ý rằng, có một số ngoại lệ trong xuất, nhập cảnh như (miễn thị thực), khi xuất cảnh, nhập cảnh là các nguyên thủ quốc gia, quan chức cấp cao mà theo điều ước quốc tế quy định, tức (đủ điều kiện). Điều kiện đó có thể là xóa bỏ các thủ tục không cần thiết hay đối tượng XNC đó đã đáp ứng điều kiện chung mà các quốc gia trên thế giới công nhận.
Miễn thị thực là nội dung đặc cách tức đối tượng XNC không phải thực hiện thủ tục xin cấp phép nhập cảnh hoặc xuất cảnh mà nằm trong các trường hợp theo điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập. Cụ thể các đối tượng được miễn thị thực theo pháp luật Việt Nam gồm: Sử dụng thẻ thường trú hoặc tạm trú theo quy định của Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; vào khu kinh tế cửa khẩu, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; có quan hệ ngoại giao với Việt Nam; phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của Việt Nam trong từng thời kỳ; không làm phương hại đến quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội của Việt Nam; quyết định đơn phương; người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp và người nước ngoài là vợ, chồng, con của họ; người nước ngoài là vợ, chồng, con của công dân Việt Nam được miễn thị thực theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên các quyết định miễn thị thực được xác định có thời gian nhất định, thông thường theo quy định của pháp luật Việt Nam là không quá 05 năm và được xem xét ra hạn. Và quyết định đơn phương miễn thị thực bị hủy bỏ nếu không đủ các điều kiện quy định của pháp luật Việt Nam.
Phạm vi của đề tài nghiên cứu thường xuyên tiếp xúc với hai đối tượng miễn thị thực: Công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, tỉnh biên 10 giới khi sang khu vực biên giới, tỉnh biên giới đối diện nước láng giềng phải có giấy thông hành biên giới hoặc giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới, tỉnh biên giới khi sang khu vực biên giới, tỉnh biên giới Việt Nam đối diện phải có giấy thông hành biên giới hoặc giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [21]. Cách thức mà con người thực hiện nhập cảnh vào một nước, hay xuất cảnh ra khỏi một nước nào đó bằng nhiều con đường, với những phương tiện giao thông khác nhau. Dựa vào tính chất của các loại phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, có thể phân loại các loại cửa khẩu như: Cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt, cửa khẩu đường thuỷ nội địa, cửa khẩu đường hàng hải và cửa khẩu đường hàng không. Tại các cửa khẩu, hoạt động XNC phải chịu sự quản lý, kiểm soát của các ngành, các cơ quan QLNN, các ngành, trong đó có vai trò của bộ đội biên phòng.
Cửa khẩu biên giới đường thủy nội địa là cửa khẩu biên giới đất liền được mở trên các tuyến đường thủy đi qua đường biên giới quốc gia trên đất liền. Đối với xuất, nhập cảnh tại cửa khẩu hàng không: Cảng hàng không là khu vực xác định, bao gồm sân bay, nhà ga và trang bị, thiết bị, công trình cần thiết khác được sử dụng cho tàu bay đi, đến và thực hiện vận chuyển hàng không. Cảng hàng không được phân làm hai loại Cảng hàng không Quốc tế là cảng hàng không phục vụ cho vận chuyển quốc tế và vận chuyển nội địa; Cảng hàng không nội địa là cảng hàng không phục vụ cho vận chuyển nội địa. 11 Đối với xuất, nhập cảnh tại cửa khẩu cảng: Cửa khẩu cảng bao gồm cửa khẩu cảng biển và cửa khẩu cảng thủy nội địa Cửa khẩu cảng biển là phạm vi cảng biển, bến cảng, cầu cảng; cảng dầu khí ngoài khơi do Bộ Giao thông vận tải hoặc Cục Hàng hải Việt Nam công bố mở theo thẩm quyền được pháp luật quy định, cho tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài đến, rời để bốc rỡ hàng hóa, đón trả khách và thực hiện các hoạt động khác.
Cửa khẩu cảng biển bao gồm cả cảng thủy nội địa, bến thủy nội địa, cảng cá nằm trong vùng nước cảng biển. Cửa khẩu cảng thủy nội địa là phạm vi cảng thủy nội địa, bến thủy nội địa, do Bộ Giao thông vận tải hoặc Cục đường thủy nội địa Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải công bố mở theo thẩm quyền được pháp luật quy định cho tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, chuyển cảng để bốc dỡ hàng hóa, đón trả khách và thực hiện các hoạt động khác. Cửa khẩu cảng thủy nội địa bao gồm cả bến thủy nội địa có vùng nước trước cầu cảng thuộc vùng nước cửa khẩu cảng thủy nội địa. Hoạt động xuất, nhập cảnh có thể được thực hiện ở cửa khẩu đường không, đường thủy và đường bộ.
Trong đó xuất, nhập cảnh ở cửa khẩu đường bộ tại Việt Nam là một dạng điển hình được thực hiện tại cửa khẩu với các nước có chung đường biên giới trên bộ với Việt Nam.