CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư suy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
et al, 2010; Quốc hội, 2013. Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế giới (Dam, V. Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người (Vũ Cao Đàm, 2005). Theo tác giả Nguyễn Đình Thọ (2014), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, Nhà xuất bản Lao động - xã hội.
Nghiên cứu khoa học là một quá trình tham vấn và điều tra một cách có hệ thống và có phương pháp nhằm làm gia tăng lượng kiến thức; là cách thức con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống. Luật Khoa học và Công nghệ số 18/2018/QH 14 quy định: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [tr1;2]. Như vậy, nghiên cứu khoa học có thể được hiểu là hoạt động khám phá và phát hiện, nhằm tìm hiểu bản chất và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, cũng như sự tư duy, sáng tạo ra các giải pháp để áp dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh các luận điểm khoa học liên quan đến một sự vật hoặc hiện tượng cụ thể mà cần được khám phá và hiểu rõ.
Khái niệm sinh viên Theo Từ Điển Tiếng Việt, chủ biên Hoàng Phê, nhà xuất bản, NXB Đà Nẵng, 2003: Sinh viên là người học ở bậc đại học là người được học tập, rèn luyện tại chương trình đào tạo trình độ hệ chính quy trong cơ sở giáo dục, được cung cấp cơ sở vật chất, đảm bảo nhiệm vụ và quyền hạn trong quá trình rèn luyện. 7 Sinh viên là người đăng ký vào trường giáo dục nhà nước công lập hoặc tư nhân đủ trình độ học thức và kỹ năng cơ bản ở bậc cao đẳng, đại học. Hay sinh viên là người tham gia các khoá học để đạt được mức độ tốt nhất do người hướng dẫn đã dạy. Sinh viên là chủ thể thực hiện hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học được giảng dạy kiến thức và truyền đạt kinh nghiệm để ra trường có một công việc tốt.(Phê, 2003) Như vậy, sinh viên không chỉ là những người đang học tập ở trường đại học và cao đẳng, mà còn là những người có trách nhiệm và năng lực tham gia vào quá trình học tập, phát triển bản thân và đóng góp vào xã hội.
Một số lý thuyết về hành vi 1. Thuyết hành vi hoạch định (TPB - Theory of Planned Behavior) của Azjen (1991) Tác giả cho rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các ý định (động cơ) để thực hiện hành vi đó. Ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi. Thái độ là quan điểm của một người về hành vi của họ, bao gồm các giá trị, niềm tin và cảm xúc.
Một quan điểm phổ biến là ảnh hưởng của xã hội, gia đình và bạn bè đối với hành vi của người biểu diễn được xác định bởi sự đồng thuận xã hội và áp lực của bạn bè. Kiểm soát hành vi là khả năng và niềm tin để kiểm soát hành vi của một người trong các tình huống khác nhau. TPB tin rằng ý định của người biểu diễn là yếu tố quan trọng nhất để dự đoán hành vi của họ. Ý định nảy sinh từ sự tác động lẫn nhau của thái độ, ý kiến phổ biến và các yếu tố kiểm soát hành vi.
Nếu người biểu diễn có ý định rõ ràng để thực hiện một hành động và có khả năng kiểm soát hành vi của mình, thì nhiều khả năng họ sẽ thực hiện hành động đó. Mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) (Ajzen, 1991) • Thái độ đối với hành vi (Ab) 8 Đầu tiên, thái độ của một cá nhân có thể là thiện chí hoặc không thiện chí đối với kết quả của hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Yếu tố quan trọng quyết định thái độ hành vi (Ab) là kết quả dự kiến từ hành động. Đánh giá được đo là khả năng xảy ra của kết quả khi hành động được thực hiện và giá trị đánh giá là khả năng của kết quả này.
Theo Ajzen và Fishbein, những suy nghĩ không nảy sinh trong tâm trí của người dân sẽ không ảnh hưởng đến hành vi. Vì vậy, phương pháp tiếp cận đo lường thái độ đối với hành vi theo Fishbein tập trung vào những suy nghĩ về kết quả tích cực hoặc tiêu cực nổi bật nhất trong tâm trí của các cá nhân khi họ có ý định thực hiện một hành vi nào đó. • Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) là biến mới nhất được đưa vào, đại diện cho niềm tin về khả năng dễ dàng hay khó khăn để thực hiện một hành vi. Đo PBC bằng niềm tin về việc kiểm soát thông qua khai thác các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hoặc ức chế (cả hai bên – khả năng, kỹ năng, sự tự tin và các yếu tố bên ngoài – sự sẵn có của nguồn lực cần thiết, cơ hội điều kiện; và sức mạnh nhận thức của từng yếu tố kiểm soát.
Các đo lường về PBC cũng dựa trên các niềm tin nền tảng nổi bật, được gọi là niềm tin kiểm soát. Niềm tin kiểm soát có thể được đo lường gồm: các yếu tố hỗ trợ hành động, và khả năng kiểm soát việc tiếp cận hành vi. • Tiêu chuẩn chủ quan (SN) SN là ý kiến của những người xung quanh đại diện cho áp lực mà cá nhân cảm nhận từ những cảm nhận của những người khác có tác động quan trọng về việc chấp nhận hay không chấp nhận về việc thực hiện hành vi. SN được đo lường bởi các niềm tin chung về sự tham khảo bao gồm tính khả thi của những người tham khảo nắm giữ niềm tin chung và động lực của người thực hiện hành động để phù hợp với cảm nhận của người tham khảo.
Các ý kiến của những người xung quanh (SN) cũng dựa trên niềm tin nổi bật, được gọi là bản quy phạm niềm tin, về việc những người có khả năng ảnh hưởng quan trọng nghĩ rằng người trả lời nên hay không nên làm một hành vi cụ thể nào đó. * Ý định hành vi (BI) và các yếu tố chi phối ý định hành vi (BI) Ba thành phần: thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN), và PBC là các động lực tác động đến ý định hành vi (BI – behavioural intention) cho thấy mức độ một người sẵn sàng để thử và làm thế nào họ cố gắng thực hiện một hành vi nhất định. Ban đầu, lý thuyết hành động hợp lý (TRA) giả định rằng hành vi của con người là dưới sự kiểm soát của ý chí, và trong trường hợp có ý định một mình có thể dự đoán hành vi. Tuy nhiên, trong một số 9 trường hợp, khi hành vi quan tâm vẫn không thể được thực hiện, TPB thừa nhận rằng PBC tác động ảnh hưởng.
Thuyết tự quyết (Self-Determination Theory) Thuyết tự quyết cho rằng con người được thúc đẩy để phát triển và thay đổi bởi ba nhu cầu tâm lý bẩm sinh (quyền tự chủ, năng lực và sự gắn kết). Khái niệm về động cơ nội tại, hoặc sự gắn kết trong các hoạt động bởi phần thưởng vốn có của bản thân hành vi đó, đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết này. Và theo đó, lý thuyết tự quyết định cho rằng mọi người có thể tự quyết khi các nhu cầu về năng lực, sự gắn kết và quyền tự chủ của họ được đáp ứng. Lý thuyết này lần đầu tiên được nhắc đến từ công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Edward Deci và Richard Ryan, thông qua cuốn sách Self-Determination and Intrinsic Motivation in Human Behavior năm 1985.
Hai nhà tâm lý học đã phát triển một lý thuyết về động lực cho thấy mọi người có xu hướng bị thúc đẩy bởi nhu cầu phát triển và đạt được sự trọn vẹn. Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học sinh viên 1. Đối với sinh viên Nghiên cứu khoa học có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh viên, việc nghiên cứu khoa học của sinh viên đã được cụ thể hóa tại thông tư số 19/2012/TT-BGDĐT ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học. Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên bổ sung kiến thức một cách toàn diện, điều mà chương trình chính khóa không thể đảm bảo.
Qua quá trình khảo sát và thực tế, sinh viên sẽ áp dụng những kỹ năng ít được sử dụng trong giảng đường, giúp hiểu sâu hơn về những khía cạnh của đời sống và kinh tế mà sách vở không thể đề cập đến. Nghiên cứu khoa học khám phá sâu hơn những kiến thức đã được học. Sinh viên sẽ phát triển khả năng phân tích, đánh giá và kết hợp thông tin mới để giải quyết các vấn đề thực tế. Từ việc tập trung vào một vấn đề cụ thể, có thể mở rộng kiến thức và vốn sống của mình.
Nghiên cứu giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, sự hiệu quả trong công việc đồng đội và khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thành viên trong nhóm. Công việc nghiên cứu không chỉ đối mặt với nhiều khó khăn và rắc rối, mà còn cung cấp những bài học quý giá từ trải nghiệm cá nhân, thúc đẩy sự phát triển và thay đổi tích cực. 10 Nghiên cứu làm giàu kinh nghiệm viết báo cáo, chuyên đề tốt nghiệp và chuẩn bị cho những thách thức sau này trong sự nghiệp.