Chương I trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mô tả tổng quát các phương pháp, mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu, ý nghĩa, điểm mới của đề tài cũng như bố cục bài nghiên cứu. Trình bày về cách thức, phương pháp thu thập, xây dựng bảng dữ liệu, sử dụng dữ liệu phục vụ quá trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng II: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương II trình bày nền tảng lý thuyết, nêu cơ sở lý luận, thực trạng các nghiên cứu đã có và bối cảnh của các nhân tố được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chƣơng III: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương III trình bày tổng quát các bước chạy dữ liệu của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.
Chƣơng IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4 Chương IV trình bày kết quả của mô hình đã chạy. Xem xét mô hình phân tích và mô hình dự báo có phù hợp với đề tài nghiên cứu hay không. Từ đó thảo luận, xem xét đi kèm thực tế có chấp thuận hay bác bỏ các giả thuyết đã xây dựng từ đầu. Chƣơng V: Kết luận và khuyến nghị Trên cơ sở phân tích từ chương IV, nhóm nghiên cứu đề xuất các kiến nghị để đẩy mạnh tác động tích cực đến kim ngạch đồ gỗ Việt Nam xuất khẩu, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cũng như quá trình thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra những đóng góp, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ 1.
Nghiên cứu nước ngoài Turner (2008), Katz (2006, 2008) bằng mô hình nghiên cứu định lượng đã kết luận các hàng rào thương mại có tác động nhất định đến xuất khẩu các sản phẩm gỗ từ New Zeland đến Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Sun và cộng sự (2010) cũng đã lượng hóa mức độ tác động của yếu tố thuế quan và phi thuế quan lên thương mại các sản phẩm lâm sản của Canada. Kết quả cho thấy mặc dù các hàng rào phi thuế quan ít phổ biến hơn nhưng có mức tác động tương tự hoặc lớn hơn hàng rào thuế quan đến thương mại đồ gỗ. Maplesden và Horgan (2016) một lần nửa chứng minh hàng rào thương mại có tác động to lớn đến thương mại sản phẩm lâm sản của New Zeland bằng nghiên cứu định lượng.
Bằng một cách tiếp cận khác, dựa trên khảo sát các doanh nghiệp, L.Eastin và cộng sự (2004) đã sử dụng phương pháp định lượng bằng thống kê và kiểm định thống kê để đưa ra những đánh giá và kết luận các yếu tố về quy mô doanh nghiệp, kênh phân phối rút ngắn, sự đa dạng sản phẩm, đại diện chi nhánh tại Nhật Bản và mối quan hệ mật thiết với khách hàng Nhật Bản là những yếu tố quan trọng tác động đến sự thành công của xuất khẩu đồ gỗ của khu vực Pacific Northwest vào Nhật Bản. Azizi và Samsinar (2008) thông qua mô hình hồi quy đã chứng minh được hoạt động quảng cáo (marketing) có mối quan hệ chặt chẽ đến xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Malaysia. Domson (2002) dựa trên kỹ thuật phân tích SWOT và phân tích định lượng đã nhận ra khả năng tiếp cận khách hàng, hiểu biết quy định ở nước nhập khẩu, yêu cầu khắt khe từ những nhà nhập khẩu là những yếu tố cản trở xuất khẩu của gỗ của Gana vào thị trường Hoa Kỳ. Cũng dựa trên kỹ thuật phân tích SWOT và kết hợp với mô hình dự báo, Scudder (2012) đã cho thấy khối lượng gỗ khai thác tiềm năng, khả năng sản xuất tiềm năng của các nhà máy ở Montana, khả năng phân phối và nhu cầu của các nhà nhập khẩu Trung Quốc sẽ có sự ảnh hưởng mật thiết đến xuất khẩu đồ gỗ của Montana vào thị trường Trung Quốc.
6 Ở góc độ nghiên cứu cầu nhập khẩu, Bvàara và Vlosky (2012) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhập khẩu đồ gỗ của Hoa Kỳ để từ đó đánh giá triển vọng cho các nước xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường này. Với mô hình định lượng bằng phân tích nhân tố khám phá, tác giả đã chỉ ra chất lượng sản phẩm, mối quan hệ khách hàng lâu dài, thời gian giao hàng, giá cả và sự danh tiếng của nhà xuất khẩu là các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn các nhà cung ứng nước ngoài. Nghiên cứu này cũng khám phá ra chứng nhận chất lượng sản xuất (FSC, SFI, ISO 14000) không quan trọng trong việc chọn lựa đối tác cung ứng của các công ty nhập khẩu đồ gỗ Hoa Kỳ. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Vũ Thu Hương & cộng sự (2014) cũng bằng những phân tích định tính, tác giả đã chỉ ra rằng sự hội nhập quốc tế của Việt Nam, đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam, sự tiếp cận với những thị trường có quy mô lớn, sự phụ thuộc nguồn nguyên liệu là những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chế biến và xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam.
Nghiên cứ của Phan Ánh Hè (2009) đánh giá thực trạng ngành chế biến gỗ Việt Nam và chỉ ra các yếu tố về nguồn nguyên liệu cung ứng cho chế biến và xuất khẩu quy mô các doanh nghiệp chế biến gỗ, nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp, chủng loại các sản phẩm gỗ chế biến và tình hình thị trường xuất nhập khẩu gỗ trên thị trường thế giới là những yếu tố có khả năng tác động lên năng lực sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam. Nghiên cứu của Tô Xuân Phúc và cộng sự (2015) về xuất khẩu dăm gỗ Việt Nam 2012 - 2014 mặc dù chưa có những chứng minh bằng mô hình định lượng nhưng đã đưa ra những bàn luận sâu sắc về sự tác động của ngành dăm gỗ lên ngành đồ gỗ. Lập luận cho rằng sự phát triển của ngành dăm gỗ sẽ là nguyên nhân làm thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu gỗ cho sản xuất các sản phẩm gỗ và cũng có ý kiến trái chiều về lập luận này. Tuy nhiên, đây là môt ý kiến nghiên cứu đáng tham khảo để bổ sung vào mô hình những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm gỗ.
Giá trị kế thừa và khoảng trống nghiên cứu Nhiều nghiên cứu ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về xuất khẩu đồ gỗ bằng cả phương pháp định tính và định lượng. Kết quả của những nghiên cứu này đã chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất khẩu sản phẩm gỗ của các quốc gia. Các nghiên cứu đã tập trung vào việc phân tích quy mô kinh tế của các nước xuất khẩu và 7 nhập khẩu. Điều này bao gồm khả năng cung ứng nguyên liệu, các hàng rào thương mại, chính sách hỗ trợ và điều hành của chính phủ, cũng như sự mở cửa thương mại.
Các nghiên cứu trong nước thường chỉ tiếp cận vấn đề dưới góc độ nghiên cứu định tính. Chúng tập trung vào các yếu tố như dân số trong nước, diện tích đất sản xuất rừng, khả năng cung ứng nguyên liệu, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, sự mở cửa thương mại và chính sách hỗ trợ của chính phủ. Những yếu tố này có khả năng tác động đến xuất khẩu ngành hàng lâm nghiệp và đồ gỗ của Việt Nam. Mặc dù các nghiên cứu đã chỉ ra các yêu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nhưng chưa mang tính cập nhật trong khi các xu hướng mới chưa từng có trong lịch sử đang diễn ra.
Với khoảng chống nghiên cứu đó, điểm mới của nghiên cứu sẽ là xây dựng và bổ sung thêm những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu đồ gỗ phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Các vấn đề liên quan 2. Xuất khẩu Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài. Theo điều 28 của Luật Thương mại số 36/2005/QH11, “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Theo cách tiếp cận của Ecommerce (2019), xuất khẩu đề cập đến hoạt động bán hàng hóa thương mại cho một quốc gia khác. Nói một cách khác, xuất khẩu đòi hỏi phải có hoạt động giao dịch thương mại trên thị trường quốc tế. Theo cập nhật mới nhất của Troy (2019), xuất khẩu được xem như là một hoạt động quan trọng trong thương mại quốc tế, ở đó, hàng hóa được sản xuất tại một quốc gia được chuyển đến một quốc gia khác để bán hoặc giao dịch trong tương lai. Từ đó có thể thấy, xuất khẩu là hoạt động quan trọng trong thương mại quốc tế, mà ở đó, hàng hóa được bán sang quốc gia khác để thu về lợi nhuận.
Lâm sản Lâm sản được định nghĩa tại khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi năm 2016). Theo đó: “Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác; bao gồm gỗ, lâm sản ngoài gỗ và sản phẩm đồ gỗ đã chế biến. Xuất khẩu lâm sản Từ các khái niệm trên, có thể định nghĩa xuất khẩu lâm sản là hoạt động trao đổi sản phẩm của hoạt động sản xuất lâm nghiệp giữa các quốc gia nhằm mục đích thu về lợi nhuận bằng một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Hình thức xuất khẩu Xuất khẩu gỗ nguyên liệu: Đây là hình thức xuất khẩu gỗ dạng thô, chưa qua xử lý hoặc chế biến.
Gỗ nguyên liệu thường được sử dụng để sản xuất đồ nội thất, ván ép, và các sản phẩm gỗ khác tại quốc gia nhập khẩu. Xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến: Đây là hình thức xuất khẩu các sản phẩm đã qua xử lý hoặc chế biến từ gỗ, ví dụ như đồ nội thất, ván ép, gỗ dán, gỗ công nghiệp, và các sản phẩm gỗ khác. Đây là phần lớn kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Xuất khẩu gỗ bằng container đường sắt: Để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong vận chuyển, nhiều doanh nghiệp lựa chọn xuất khẩu gỗ bằng container đường sắt.
Điều này giúp giảm chi phí vận chuyển và tối ưu hóa quy trình logistics.