Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 2. Khái niệm hành vi tiêu dùng Về lý thuyết về hành vi người tiêu dùng có nhiều định nghĩa khác nhau được thực hiện đa dạng ở các nghiên cứu. Tác giả đã thực hiện tiếp cận và tóm tắt tổng hợp các định nghĩa về hành vi người tiêu dùng cụ thể như sau: Đối với James F.
Engel và các cộng sự (2005) định nghĩa rằng “Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/ dịch vụ. Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó”. Đối với Kardes và cộng sự (2002) thì định nghĩa “Hành vi người tiêu dùng là sự nghiên cứu về phản ứng của con người về những sản phẩm và dịch vụ cũng như những cách tiếp thị về những sản phẩm và dịch vụ”. Đối với định nghĩa của Micheal R.
Solomon (2006) phát biểu: “Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/ dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ”. Đối với Wayne D. Hoyer và cộng sự (2013) chỉ ra rằng “Hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định về việc mua cái gì, tại sao, khi nào, như thế nào, nơi nào, bao nhiêu, bao lâu một lần, liệu như thế thì sao mà mỗi cá nhân, nhóm người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về việc chọn dùng sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc các hoạt động”. Ngoài ra, đối với Schiffman và cộng sự (2002) cho rằng “Hành vi người tiêu dùng là những hành vi người tiêu dùng thể hiện trong các cuộc nghiên cứu về việc mua, sử dụng, việc đánh giá về sản phẩm, dịch vụ và những ý kiến mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ”.
Mô hình về hành vi của người tiêu dùng Phillip Kotler có đóng góp rất lớn đối với marketing và quản trị nói chung. Ngoài ra, nghiên cứu của ông đã đưa ra được những yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, nội dung được tổng hợp cụ thể qua mô hình sau: Hộp đen của người mua Các tác nhân Các tác Đặc điểm Tiến trình quyết Quyết định Marketing nhân khác người mua định người mua của người mua Sản phẩm Kinh tế Văn hóa Nhận thức vấn đề Chọn sản phẩm Giá cả Chính trị Xã hội Tìm kiếm thông tin Chọn nhãn hiệu Phân phối Văn hóa Cá tính Đánh giá Chọn đại lý Chiêu thị Xã hội Tâm lý Quyết định Định thời gian Hành vi mua Định số lượng Hình 2.1: Mô hình hành vi người tiêu dùng (Nguồn: Phillip Kotler – tài liệu Quản trị Marketing, 2001, trang 198) Theo Phillip Kotler định nghĩa về “Hộp đen” như sau: “Hộp đen” của người mua bao gồm hai yếu tố là đặc điểm người mua và tiến trình quyết định người mua. Đặc điểm của người mua thể hiện là người đó sẽ cảm nhận và phản ứng như thế nào khi bị tác động bởi các tác nhân. Mỗi người sẽ có một “hộp đen” khác nhau và được xác định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội, cá tính và tâm lý.
Các tác nhân tác động và hộp đen được Phillip Kotler cụ thể hóa là các tác nhân marketing như sản phẩm, giá cả, phân phối, chiêu thị và các tác nhân khác như kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Bên cạnh đó là tiến trình quyết định của người mua tự ảnh hưởng đến quyết định. Kết quả của mô hình hành vi người tiêu dùng là người đó chọn sản phẩm, chọn nhãn hiệu, chọn đại lý, định thời gian và định số lượng. Công việc của người làm marketing và quản trị là phải hiểu được tác nhân nào, tác động ra sao bên trong hộp đen của người mua để họ đưa ra quyết định.
Các mô hình lý thuyết liên quan 2. Mô hình Sproles – Kendall (1986) Sproles và Kendall (1986) cho rằng quá trình ra quyết định mua dựa trên đặc tính cơ bản của người tiêu dùng. Hầu hết sự lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng đều bị ảnh hưởng bởi một hoặc nhiều quyết định mua sắm cụ thể, cái mà ảnh hưởng đến việc ra quyết định cuối cùng của một cá nhân. Họ đã xây dựng thang đo có 40 biến quan sát để đo lường tám đặc trưng của hành vi người tiêu dùng được đặt tên là Thang đo Phong cách khách hàng (Consumer Styles Inventory) viết tắt là CSI.
Tính hoàn hảo Hình ảnh thương hiệu Tính mới lạ, thời trang Tính tiêu khiển, giải trí Giá cả, giá trị thu lại Quyết định mua sắm Bốc đồng, bất cẩn Bối rối do quá nhiều lựa chọn Trung thành với nhãn hiệu hay thói quen Hình 2.2: Mô hình quyết định mua sắm (Nguồn: Sproles và Kendall, 1986) - Nhân tố 1: Tính hoàn hảo, đo lường mức độ mà một khách hàng tìm kiếm chất lượng tốt nhất. - Nhân tố 2: Hình ảnh thương hiệu; những khách hàng hướng về mua những sản phẩm đắt tiền, nhãn hiệu nổi tiếng, bán chạy nhất, nhãn hiệu quảng cáo nhiều nhất. Họ tin là tiền nào của nấy, giá cao thì chất lượng cao. - Nhân tố 3: Tính mới lạ, thời trang; những khách hàng tìm kiếm sự đa dạng, phong phú, họ mua sắm ít cẩn thận và ít quan tâm đến giá, những người thích thời trang, mới lạ.
Tìm được thứ gì mới họ sẽ rất thích thú, hào hứng. 8 - Nhân tố 4: Tính tiêu khiển, giải trí, đo lường mức độ khách hàng xem mua sắm như là một hành vi giải trí, vì thế họ mua để vui vẻ và thưởng thức. - Nhân tố 5: Giá cả; những người mua sắm bằng cách so sánh, muốn có được giá trị tốt nhất so với số tiền họ bỏ ra, tìm sản phẩm giá thấp, hay sản phẩm bán hạ giá. Mô hình Sheth – Newman Gross (1991) Mô hình Sheth – New Gross (1991) cho rằng năm nhân tố bao gồm giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị có điều kiện, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức ảnh hưởng đến quyết định mua sắm.
Giá trị chức năng Giá trị xã hội Quyết định mua sắm Giá trị cảm xúc Giá trị tri thức Giá trị có điều kiện Hình 2.3: Năm giá trị ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn tiêu dùng (Nguồn: Sheth và Newman, 1991, trang 159 – 170) - Giá trị chức năng: Đối với Sheth – New Gross (1991) cho rằng, giá trị chức năng được coi là động lực chính trong sự lựa chọn hành vi người tiêu dùng. Giá trị chức năng có thể được bắt nguồn từ đặc điểm hoặc các thuộc tính của sản phẩm như độ tin cậy, độ bền và giá cả (Ferber, 1973). - Giá trị xã hội: giá trị xã hội bao gồm các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế xã hội, văn hóa và dân tộc. Trong đó, nhân khẩu học (tuổi, giới tính, tôn giáo), kinh tế xã hội (thu nhập, nghề nghiệp), văn hóa/ dân tộc (chủng tộc, lối sống), hoặc chính trị, tư tưởng phân đoạn của xã hội.
9 - Giá trị cảm xúc: Theo Sheth – New Gross (1991), giá trị cảm xúc được xác định trên cơ sở cá nhân của cảm xúc liên quan. Một sản phẩm có thể khơi dậy những cảm xúc hay những trạng thái tình cảm của người tiêu dùng. Cảm xúc tiêu thụ dùng để chỉ tập hợp các phản ứng cảm xúc gợi ra trong quá trình sử dụng sản phẩm hoặc kinh nghiệm tiêu dùng được mô tả bằng các cung bậc cảm xúc (Sheth, 1991). - Giá trị tri thức: Theo Sheth – New Gross (1991) phát biểu rằng, giá trị tri thức của sản phẩm đề cập đến sự tò mò, sự mới lạ, và kiến thức về sản phẩm thông qua các hoạt động tìm kiếm sản phẩm, dùng thử.
Hành vi tiêu dùng có thể được thay thế khi người tiêu dùng cảm thấy chán nản hoặc tiếp tục lặp lại khi họ cảm thấy hài lòng với sản phẩm (Sheth, 1991). - Giá trị có điều kiện: Theo Sheth – New Gross (1991), giá trị có điều kiện được đo thông qua việc dự phòng các chọn lựa. Giá trị có điều kiện thường phụ thuộc vào tình hình. Qua nghiên cứu của Sheth – New Gross (1991) ta nhận thấy rằng quyết định mua sắm có thể chịu ảnh hưởng bởi năm yếu tố trên.
Ngoài ra, tùy theo từng bối cảnh cụ thể, hành vi người tiêu dùng sẽ thay đổi khác nhau và chịu ảnh hưởng rất ít từ các tác nhân như xã hội, các giá trị có điều kiện và tri thức. Mô hình EKB (Engel – Kollat – Blackwell, 1995) Mô hình EKB chỉ ra rằng hành vi người tiêu dùng là một quá trình liên tục bao gồm việc nhận ra nhu cầu, thu thập thông tin, xem xét các lựa chọn, quyết định mua và đánh giá sau khi mua. Mô hình EKB gồm bốn giai đoạn: ❖ Giai đoạn 1: Thông tin đầu vào Người tiêu dùng nhận thông tin từ thị trường ở giai đoạn này, từ đó có cơ sở nhận dạng nhu cầu. ❖ Giai đoạn 2: Xử lý thông tin Ở giai đoạn này, người tiêu dùng bắt đầu tiến trình xử lý thông tin bao gồm các bước: tiếp cận, chú ý, nhận thức, chấp nhận và lưu giữ thông tin đến.
10 ❖ Giai đoạn 3: Quá trình ra quyết định Mô hình dựa trên năm bước cơ bản của quá trình ra quyết định: nhận dạng nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá thông tin, mua, kết quả sau khi mua. Nhưng không có nghĩa là nhất thiết người mua phải trải qua tất cả các giai đoạn trong quá trình ra quyết định của mình. ❖ Giai đoạn 4: Các biến ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định Các biến ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của người tiêu dùng như đặc điểm cá nhân, môi trường xã hội. Trong đó, đặc điểm cá nhân bao gồm động cơ, lối sống, nhân cách; môi trường xã hội bao gồm văn hóa, gia đình và nhóm tham khảo.
Ngoài ra, tình trạng tài chính của người tiêu dùng cũng là một trong những biến ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định mua.4: Mô hình EKB (Engel – Kollat – Blackwell, 1995) (Nguồn: Engel – Kollat – Blackwell, 1995, trang 95) 2.