Chương 1: Giới thiệu - Chương này sẽ đưa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và lược khảo tài liệu - Chương này đưa ra các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu, thực trạng và các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động NHTM cổ phần trước đây. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 6 - Chương này đưa ra phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu và các dữ liệu của đề tài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả - Chương này đưa ra các kết quả phân tích từ việc phân tích hồi quy và thống kê mô tả, từ đó thảo luận và đưa ra các ý kiến, nhận xét trong quá trình phân tích.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Chương này đưa ra kết luận của đề tài nghiên cứu và các hàm ý chính sách đối với ngân hàng nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước và các ngân hàng thương mại đồng thời nêu ra các hạn chế của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. NHTM là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.
NHTM là một định chế tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm nhận tiền gửi và cho vay tiền, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác (Mishkin, 2001) Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, hiệu lực từ 01/01/2011: NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm thực hiện mục tiêu lợi nhuận. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động của các NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ứng trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả hoạt động của các NHTM được đo lường một cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có.
Hiệu quả hoạt động của các NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Nếu NHTM hoạt động có hiệu quả kinh doanh thì uy tín của ngân hàng đó sẽ được tăng lên, người gửi tiền sẽ yên tâm và tin tưởng, từ đó 8 công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ được thuận lợi và phát triển. Trên cơ sở nguồn vốn huy động tăng đó, NHTM mới có khả năng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình và tạo ra được lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy được nhiều và có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách hàng, tạo ra hiệu quả ngày càng tăng. Chính vì vậy mà các NHTM coi hiệu quả hoạt động là mục tiêu quan trọng hàng đầu của hoạt động kinh doanh.
Việc phân tích hiệu quả hoạt động NHTM thông qua các tỷ số phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển và quy luật vận động của chúng, ngoài ra việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó sẽ dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu, và dễ dàng tìm ra các biện pháp giải quyết thích hợp.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động của các NHTM được đánh giá thông qua năng lực tài chính của ngân hàng, được thể hiện ở các chỉ tiêu giới thiệu trong phần này và năng lực về hoạt động kinh doanh được thể hiện thông qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong phần tiếp theo. Để đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của các NHTM được ổn định và ngày càng phát triển thì việc phải đảm bảo về các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động ngân hàng là điều cần thiết.3 Các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại ❖ Chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng nhằm đánh giá mức độ an toàn về vốn của các NHTM. Tỷ số này giúp xác định khả năng bù đắp các rủi ro bằng nguồn vốn tự có của ngân hàng. ❖ Tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu = vốn tự có/ tổng tài sản có rủi ro 9 Vốn tự có của ngân hàng bao gồm vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2.
Trọng tâm của vốn tự có cấp 1 là vốn điều lệ và các quỹ dự trữ. Đây là nguồn vốn cơ bản quyết định sự tồn tại của mọi hệ thống ngân hàng. Nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho NHTM. Vốn tự có cấp 2 là nguồn vốn bổ sung, bao gồm vốn do đánh giá lại tài sản cố định và các khoản khác như khoản nợ được xem như vốn.
Tài sản có rủi ro là những khoản mục tài sản có được phản ánh trong và ngoài bảng tổng kết tài sản có thể bị tổn thất trong quá trình kinh doanh như cho vay không thu được nợ, ngân hàng phải trả tiền thay khách hàng được bảo lãnh… Dựa vào hình thức quản lý tài sản, tài sản có rủi ro bao gồm tài sản có rủi ro nội bảng và tài sản có rủi ro ngoại bảng. Ngoại trừ các tài sản được xem như không có rủi ro như tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, mỗi tài sản có còn lại đều có mức độ rủi ro nhất định. Thông thường rủi ro được chia thành mức 0%, 20%, 50%, 100% tương ứng với các xếp loại tài sản có bình thường, tài sản có kém tiêu chuẩn, tài sản có nghi ngờ và tài sản có mất trắng. Các hoạt động ngoại bảng ngày càng nhiều và có rủi ro làm ảnh hưởng đến sựphát triển bền vững của ngân hàng không kém gì các tài sản nội bảng, do đó phải đánh giá các rủi ro của tài sản ngoại bảng để đảm bảo an toàn về vốn.
Tất cả các cam kết ngoại bảng phải được chuyển đổi thành lượng tín dụng tương đương bằng cách nhân lượng tài sản ngoại bảng với hệ số chuyển đổi tương ứng. Hệ thống chuyển đổi được tính cho từng giao dịch ngoại bảng khác nhau. Sau đó nhân với hệ số rủi ro tùy theo việc ước tính rủi ro tín dụng đối với từng giao dịch ngoại bảng để có được tổng tài sản có rủi ro ngoại bảng. ❖ Giới hạn tín dụng đối với khách hàng Để kiểm soát và hạn chế rủi ro về tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã quy định giới hạn tín dụng đối với khách hàng.
Quy định cụ thể giới hạn tín dụng đối với khách hàng được thể hiện rõ ở Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ban hành ngày 20/11/2014. 10 ❖ Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung dài hạn Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng được diễn ra thông suốt, cần phải cân đối được nguồn vốn huy động và cho vay. Mọi ngân hàng đều nhận thấy rằng dùng tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn đều đem lại khoản lợi nhuận tối đa. Khi thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng có một niềm tin là khách hàng sẽ gửi lại số tiền đó khi đáo hạn nhưng trường hợp khách hàng có nhu cầu sử dụng tiền hoặc do cạnh tranh trên thị trường hoặc do ngân hàng mất đi sự tín nhiệm, trường hợp nhiều khách hàng cùng rút tiền trong khi đó các khoản cho vay trung dài hạn không thể nào thu hồi ngay được, điều đó có thể dẫn đến việc ngân hàng mất đi sự thanh khoản trong ngắn hạn và có thể dẫn đến vỡ nợ, gây rủi ro cho cả hệ thống Tổ chức tín dụng.
Do đó ngân hàng một mặt tối đa hóa lợi nhuận, mặt khác phải đảm bảo an toàn thanh khoản trong hoạt động. ❖ Phân loại cho vay và mức trích lập dự phòng rủi ro Để đảm bảo chất lượng tín dụng cũng như theo dõi kiểm soát được nợ vay thì các NHTM tiến hành phân chia nhóm nợ theo Thông tư số 11/2021/TTNHNN ban hành ngày 30/7/2011, có hiệu lực thi hành kể từ 01/10/2021. Hiện nay, nợ vay của các NHTM được chia làm 05 nhóm tương ứng với khả năng trả nợ của khách hàng, mức độ rủi ro của các khoản nợ đó. Đề đảm bảo hoạt động của ngân hàng diễn ra thông suốt khi xảy ra sự cố của các khoản nợ vay xấu, các NHTM tiến hành trích lập dự phòng rủi ro để xử lý.
Tương ứng với mức độ rủi ro của từng nhóm mà tỷ lệ trích dự phòng rủi ro khác nhau, cụ thể nhóm 5 tỷ lệ trích 100%, nhóm 4 là 50%, nhóm 3 là 20%, nhóm 2 là 5% và nhóm l là 0%.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ❖ Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi Tỷ lệ ROA (Return on Assets) Lợi nhuận ròng ROA = x100 Tổng tài sản có 11 Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều là nhữngkhoản đầu tư sinh lãi mỗi ngày ngoại trừ hai loại tài sản tiền mặt và tài sản cố định. Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàngtrong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản có hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế. Do vậy ROA còn phản ánh khả năng thích ứng của ban lãnh đạo ngân hàng trước những thay đổi chung của nền kinh tế.