Chương 1: Tổng quan. Chương này giới thiệu lý do chọn nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương này giới thiệu các khái niệm về việc làm, quan điểm của luận văn về việc làm, các khái niệm liên quan đến việc làm, cơ sở lý thuyết; nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của người lao động các tỉnh, thành phố duyên hải; giới thiệu các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương này giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này phân tích thực trạng tỷ lệ lao động có việc làm của các tỉnh, thành phố duyên hải; trình bày các kết quả nghiên cứu: nghiên cứu định tính, kiểm định các giả thuyết của mô hình và phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. Chương này đưa ra các kết luận, gợi ý một số chính sách, chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.1: Bản đồ hành chính các tỉnh, thành phố duyên hải Việt Nam (Bản đồ này chưa bao gồm các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam) Nguồn: https://www.vn, tác giả vẽ lại (2016) 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, nghiên cứu giới thiệu các khái niệm về việc làm, các khái niệm liên quan đến việc làm, trình bày các cơ sở lý thuyết, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của người lao động các tỉnh, thành phố duyên hải, giới thiệu các nghiên cứu trước liên quan và đề xuất mô hình nghiên cứu. Việc làm Có khá nhiều khái niệm về việc làm dựa trên các quan điểm khác nhau về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật… Các cá nhân, quốc gia và tổ chức khác nhau cũng có thể có những khái niệm khác nhau về việc làm. Một số quan điểm của nước ngoài về việc làm Tại hội nghị quốc tế lần thứ 13, năm 1983, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa, việc làm là một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực, trực tiếp, có tính chất cá nhân vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc tìm kiếm lợi nhuận (Phú Huỳnh, 2014).
Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế xác định hệ thống quan hệ giữa con người với con người về việc bảo đảm cho họ những chỗ làm việc và tham gia vào hoạt động sản xuất. Định nghĩa này được nhiều nước trên thế giới áp dụng vì tính chất phổ quát của nó đã tạo cơ sở để các quốc gia có thể vận dụng những thành tố phù hợp vào điều kiện thực tiễn của đất nước mình. Các nhà kinh tế học Anh cho rằng, việc làm – hiểu theo nghĩa rộng – là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì liên quan đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế (Trần Đình Chín, 2012). Theo quan điểm này, tất cả những hoạt động tạo ra thu nhập không cần biết có được pháp luật cho phép hay không đều được gọi là việc làm.
Quan điểm này nhìn 7 nhận việc làm dước góc độ kinh tế học, trong khi đó, một nguyên tắc cơ bản là tính pháp lý của việc làm chưa được đề cập đến. Ở Liên bang Nga, định nghĩa về việc làm được nêu rõ trong bộ luật Việc làm của cư dân Liên bang Nga. Theo đó, việc làm được hiểu là hoạt động của công dân nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội và cá nhân, đem lại cho họ thu nhập và không bị pháp luật Nga nghiêm cấm (Trần Đình Chín, 2012). Quan điểm này cho thấy, vấn đề việc làm được Chính phủ Nga rộng mở trên tất cả các hoạt động của con người, trên cơ sở bảo đảm các tiêu chí: Hoạt động đó nhằm thỏa mãn những nhu cầu của xã hội và cá nhân, đem đến cho họ thu nhập; không bị luật pháp Liên bang Nga nghiêm cấm.
Theo đó, những hoạt động trái với những quy định trên đều không được Chính phủ Nga công nhận là việc làm, những hoạt động mang lại lợi ích cho xã hội và cá nhân được Chính phủ Nga khuyến khích, bảo vệ và được xem là việc làm. Cũng theo quan điểm này, việc làm bao gồm công việc mang lại thu nhập hoặc không mang lại thu nhập, miễn là không bị luật pháp ngăn cấm. Đây là một quan điểm rất tiến bộ, phù hợp với điều kiện phát triển của thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam. Một số quan điểm ở Việt Nam về việc làm Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm việc làm được thể hiện trong bộ luật Lao động 2012 và luật Việc làm 2013.
Bộ luật Lao động 2012 định nghĩa, “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.” Còn theo luật Việc làm 2013, “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy, cách diễn đạt tuy hơi khác nhau nhưng cả hai bộ luật đều thống nhất về nội dung. Đó là: Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật nghiêm cấm. Trên thực tế, việc làm có thể được hiểu: Trước hết, là làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật từ công việc đó; hai là, công việc đem lại lợi ích cho bản thân, mà bản thân có quyền sử dụng hay sở hữu một phần hay toàn bộ tư liệu sản xuất để thực hiện công việc; ba là, làm công việc cho chính gia đình mình và không được trả thù lao dưới bất cứ hình thức nào.
Người có việc làm bao gồm tất cả những người làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, trong hệ thống các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội có hưởng thù lao dưới các 8 hình thức thể hiện qua mức thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật, nhằm phục vụ nhu cầu cho bản thân và gia đình. Những người làm việc, phục vụ trong lực lượng vũ trang, được hưởng lương từ ngân sách Chính phủ cũng được thừa nhận là có việc làm. Các Mác (1818 - 1883) là người có ảnh hưởng rất lớn ở Việt Nam. Quan điểm của Mác về việc làm và lao động được thể hiện trong tác phẩm “Tư bản” nổi tiếng viết chung với Ăng-ghen được phát hành lần đầu tiên năm 1867.
Theo Mác, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất và kỹ thuật) để sử dụng sức lao động. Vì vậy, bất cứ sự mất cân bằng nào giữa sức lao động và các điều kiện cần thiết để làm việc đều bị xem là thiếu việc làm hay mất việc làm. Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để được trả thù lao hoặc thu nhập kinh doanh (Nguyễn Hữu Quỳnh và ctg, 1998). Theo quan điểm này, việc làm được coi là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường của nước ta, với quan điểm trên thì sẽ có nhiều hoạt động không được xem là việc làm, như hoạt động bảo đảm sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những người thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh để có thu nhập ổn định. Chính những hoạt động này đã tạo nên sự ổn định xã hội và các điều kiện cần thiết cho các hoạt động trực tiếp sản xuất diễn ra suôn sẻ. Quan điểm này cũng không đề cập đến tính pháp lý của việc làm, tức là những hoạt động mang lại thù lao hoặc thu nhập nhưng phải được luật pháp cho phép. Theo Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997), việc làm là hoạt động lao động được thể hiện ở một trong ba dạng sau: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc bằng hiện vật cho công việc đó; làm các công việc để thu lợi cho bản thân; làm các công việc cho gia đình.
Với quan điểm này, vấn đề việc làm được hiểu rộng hơn. Ngoài những hoạt động mang lại thu nhập (như tiền công, tiền lương, lợi nhuận), các công việc gia đình tuy không trực tiếp mang lại thu nhập cũng được xem là việc làm. Tuy nhiên, quan điểm này chưa đề cập đến một số hoạt động khác, như hoạt động của thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự. Những hoạt động này dù không mang lại thu nhập nhưng bảo đảm an ninh xã hội và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ cho sự nghiệp 9 xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những hoạt động mang lại lợi ích to lớn như vậy cần phải được xem là việc làm. Cũng như một số quan điểm được nêu trên, quan điểm này không đề cập đến tính pháp lý của việc làm. Theo Bùi Anh Tuấn (2011), việc làm được hiểu là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Quan điểm này xem việc làm là một chỗ làm việc cụ thể nào đó để quá trình lao động được diễn ra, nhằm phân biệt với tình trạng thất nghiệp hoặc không làm việc.
Quan niệm này nêu lên được các đặc trưng về việc làm, như: - Là sự biểu hiện quan hệ của hai yếu tố là sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất. Là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện mà họ sử dụng để làm việc. Quan điểm này khá phù hợp với quan điểm của Mác về việc làm. - Lấy lợi ích vật chất và tinh thần mà các hoạt động đem lại để xem xét hoạt động đó có được coi là việc làm hay không.
Tuy nhiên, cũng như một số quan điểm đã nêu trên, quan điểm này không đề cập đến tính pháp lý của việc làm. Quan điểm của luận văn về việc làm Luận văn này nghiên cứu về việc làm của người lao động các tỉnh, thành phố duyên hải Việt Nam.