Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài – Tổng quan các vấn đề nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu trước đây, tính mới của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Tổng quan lý thuyết về sự hài lòng của viên chức và các mô hình đo lường sự hài lòng của viên chức, cũng như đo lường sự gắn kết. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết để đánh giá sự hài lòng của viên chức và mối quan hệ giữa sự hài lòng và gắn kết với tổ chức 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Giới thiệu quy trình nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương cũng trình bày việc xây dựng thang đo lường sự hài lòng của viên chức và gắn kết với tổ chức Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu - Chương này tập trung vào nội dung chính của đề tài, trình bày kết quả phân tích về sự hài lòng của viên chức, rút ra các nhân tố tác động đến sự hài lòng của viên chức và mối quan hệ giữa sự hài lòng và sự gắn kết.
Từ đó, đưa ra những kết luận trên những mẫu nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị - Dựa trên các kết quả phân tích của chương 4. Từ đó, đưa ra kết luận và đề xuất một số hàm ý quản trị nâng cao sự gắn kết của viên chức Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 2. Cơ sở lý thuyết sự hài lòng của nhân viên và sự gắn kết 2.1 Khái niệm về sự hài lòng và và các yếu tố tác động đến sự hài lòng 2.1 Khái niệm về sự hài lòng Sự hài lòng là kết quả của nhu cầu được thỏa mãn do sự động viên mang lại nói chung, riêng về sự thỏa mãn trong công việc thì có nhiều khái niệm.
Theo James L Price (1997) thì sự thỏa mãn công việc là mức độ mà nhân viên cảm nhận, có những định hướng tích cực đối với việc làm trong tổ chức (James L Price, 1997, p. Đối với Schermerhorn, Hunt and Osborn, (1997:98) thì sự thỏa mãn với công việc là những tình cảm theo chiều hướng tích cực mà nhân viên hướng đến công việc họ đang làm; Khi nhân viên cảm thấy hạnh phúc vui vẻ trong công việc chúng ta có thể nói rằng anh ta hài lòng với công việc. Theo Schemerhon (1993) được trích dẫn bởi Luddy (2005), sự hài lòng công việc được khái niệm như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc của nhân viên. Theo nghiên cứu của Smith P.L (1996), sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc.
Còn theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc nhân viên cảm thấy thích công việc của họ, còn theo Ellickson và Logsdon (2001) thì sự thỏa mãn công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hay môi trường làm việc của họ. Riêng, Leung & Clegg (2001) cho rằng sự hài lòng về công việc được tác động bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố bên ngoài như mức lương, sự tôn trọng xã hội, chính sách công ty, điều kiện làm việc. Các yếu tố bên trong như: cơ hội phát triển, công việc thử thách và có ý nghĩa, thành tựu và sự công nhận.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng công việc của nhân viên như đã nêu trên, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn và cách lý giải khác nhau về hài lòng 6 với công việc để sử dụng vào công trình nghiên cứu của mình. Nhìn chung, sự hài lòng với công việc được hiểu là cảm xúc yêu thích và hướng đến công việc của mình. Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên được khái niệm và đo lường theo cả hai khía cạnh: thỏa mãn chung đối với công việc và thỏa mãn theo các yếu tố thành phần công việc. Sự hài lòng chung thể hiện cảm xúc bao hàm chung lên tất cả các khía cạnh của công việc.
Khái niệm về sự thỏa mãn chung được sử dụng trong các nghiên cứu của Levy and William (1998), Kacmar (1999), Currivan (1999), Ellickson (2002),. Một quan điểm khác xem sự thỏa mãn công việc là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ (Smith P. Cách tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau của công việc được sử dụng trong các nghiên cứu của Yoursef (2000), Schwepker (2001). Cả hai cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc (Price 1997).
Tuy nhiên, sử dụng cách tiếp cận theo thành phần công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất. (Deconinck and Stilwell C. Như vậy, nhân viên hài lòng khi các nhu cầu của họ được thỏa mãn. Sự hài lòng có thể ảnh hưởng đến động cơ làm việc của nhân viên, trong đó nhân viên hài lòng không chỉ vì các phần thưởng vật chất, mà còn bao gồm rất nhiều yếu tố, có những yếu tố động viên tinh thần tích cực, những yếu tố chỉ có tác dụng duy trì.
Vì vậy, nhà quản trị cần phải thấu hiểu những nhu cầu cần được thõa mãn của nhân viên và tính chất của từng yếu tố động viên để có thể mang lại sự hài lòng cao nhất cho nhân viên.2 Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của nhân viên Nghiên cứu sự hài lòng chung giúp các nhà quản trị có cái nhìn khái quát hơn về mức độ hài lòng chung cả nhân viên đối với tố chức. Sự hài lòng đối với công việc được đo lường theo hai cách là đo lường chung bằng một câu hỏi và đo lường theo cá khía cạnh công việc và tập hợp lại. Tuy nhiên ở nghiên cứu này, tác giả muốn nhấn mạnh sự hài lòng đối với các yếu tố thành phần của công việc, để từ đó nhà quản trị biết được sự đánh giá cụ thể của nhân viên đối với từng yếu tố và có biện pháp tác động thích hợp. Đã có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên theo nhiều cách khác nhau và cách phân loại các yếu tố thành phần công việc cũng khác nhau.
7 Cụ thể thang đo mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) của Smith et al (1969) thiết lập 05 yếu tố trong chỉ số mô tả công việc JDI: Bản chất công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp và tiền lương. Cách phân loại này phản ánh đầy đủ các khía cạnh công việc và nhân viên tiếp xúc, tuy nhiên theo tác giả nhận thấy yếu tố đồng nghiệp là yếu tố mà nhà quản lý khó tác động. Đối với nghiên cứu của Foreman Facts (Viện quan hệ lao động NewYork, 1946), sự hài lòng của nhân viên bao gồm sự hài lòng về 10 yếu tố, như sau: kỷ thuật khéo léo; sự đồng cảm với các vấn đề cá nhân người lao động; công việc thú vị; được tương tác và chia sẽ trong công việc; an toàn công việc; điều kiện làm việc; lương; được đánh giá đầy đủ các công việc đã thực hiện; trung thành cá nhân đối với cấp trên; thăng tiến và phát triển nghề nghiệp. Trong khi đó Vroom cho rằng sự hài lòng là mức độ mà nhân viên có cảm nhận, định hướng tích cực đối với việc làm trong tổ chức (trích dẫn trong Price 1997).
Để tăng hiệu quả trong công việc cần phải có động viên, qua động viên để khơi dậy sự nỗ lực và từ đó làm tăng hiện quả công việc.Herzberg, thì cho rằng yếu tố “tiêu biểu mang lại sự thõa mãn công việc” có yếu tố, như sau: thành đạt; sự công nhận; bản thân công việc; trách nhiệm; cơ hội phát triển. Tại Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) đã áp dụng thang đo chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) của Smith et al (1969) với 05 yếu tố, đồng thời đề xuất bổ sung thêm 02 yếu tố: phúc lợi và điều kiện làm việc. Sau khi kiểm định, còn lại 04 yếu tố làm nhân viên tại Việt Nam hài lòng: tiền lương, đồng nghiệp, lãnh đạo và cơ hội thăng tiến (thông qua nghiên cứu tại Công ty cổ phần giấy Tân Mai). Đào tạo được xem là một hình thức đầu tư của cá nhân hoặc tổ chức cho nguồn vốn con người.
Khi được tuyển vào cơ quan làm việc, nhân viên sẽ được tham gia các chương trình đạo tạo nâng cao kĩ năng làm việc. Cơ quan, tổ chức mong đợi các nhân viên của mình sẽ tiếp thu được các kĩ năng và kiến thức mới để áp dụng vào công việc và chia sẻ với đồng nghiệp. Nghiên cứu của Lauri, Benson và Cheney (1996) đã chỉ ra rằng các tổ chức thường trì hoãn hoạt động đào tạo để xác định xem nhân viên có phù hợp với công việc và với tổ chức hay không, nghĩa là nhân viên đó có xác suất rời khỏi công ty ở mức thấp thì họ mới tiến hành đào tạo. 8 Theo Storey và Sisson (1993), đào tạo là một biểu tượng của sự gắn bó giữa người sử dụng lao động và nhân viên.
Hoạt động đào tạo cũng phản ánh chiến lược tổ chức dựa trên cơ sở tăng thêm giá trị thay vì hạ thấp chi phí. Các công ty hàng đầu đã thừa nhận rằng chìa khoá để thu hút và duy trì nguồn nhân lực linh hoạt và có trình độ công nghệ phức tạp để công ty đạt được thành công trong nền kinh tế kỹ thuật số ngày nay là cung cấp cho đội ngũ nhân viên một loạt tổng hợp các cơ hội phát triển nghề nghiệp và kỹ năng. Việc đào tạo và phát triển con người trong môi trường công việc đã ngày càng được coi là một phần quan trọng của quản lý nguồn nhân lực. Một phân tích về sự cam kết của nhân viên trong nhiều ngành nghề như cán bộ quản lý các bệnh viện, y tá, nhân viên dịch vụ và nhân viên văn phòng cũng như các nhà khoa học và kỹ sư từ một phòng thí nghiệm đã đi đến kết luận rằng khả năng các nhà sử dụng lao động có thể đáp ứng những nguyện vọng của nhân viên ảnh hưởng đáng kể đến ý thức gắn bó với tổ chức của người lao động.