Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Trình bày các lý do dẫn đến việc lựa chọn nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu, nhằm giới thiệu khái quát về nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết và thực tiễn của nghiên cứu, đặt cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu. Đó là khám phá và khẳng định các thành phần ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà bán lẻ và xây dựng thang đo; thiết kế mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày quá trình và kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu bao gồm kết quả đánh giá sơ bộ thang đo, đánh giá chính thức thang đo bằng hệ số Crobach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, phân tích hồi quy mô hình lý thuyết, các giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả sau nghiên cứu. Chương 5: Hàm ý quản trị Trình bày tổng hợp quá trình và kết quả nghiên cứu, đồng thời rút ra một số hàm ý quản trị trong việc triển khai những giải pháp khả thi nhằm nâng cao sự hài lòng của nhà bán lẻ mạng VNP. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10 2. Khái niệm về dịch vụ và dịch vụ viễn thông 2.1 Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ.
Một số khái niệm thông dụng: - Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng (Philip Kotler & Armstrong, 2012). - Dịch vụ là sản phẩm vô hình như dịch vụ bán lẻ, vận chuyển, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm v.v…, khác với hàng hóa là sản phẩm có hình dạng cụ thể. Tuy không có một hình thức vật chất cụ thể, nhưng dịch vụ cũng đóng góp vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người như các hàng hóa thông thường khác. Trong hệ thống hạch toán thu nhập quốc dân, dịch vụ là một thành tố quan trọng của tổng sản phẩm trong nước GDP (Nguyễn Văn Ngọc, 2006).
Từ nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ do các nhà nghiên cứu xây dựng, có thể đưa ra quan điểm chung về dịch vụ như sau: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Dịch vụ không tồn tại ở dạng sản phẩm hữu hình như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu của con người. Các đặc trưng của dịch vụ Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các đặc điểm tiêu biểu của dịch vụ bao gồm: - Tính vô hình: Dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể và không thể nhìn thấy hay cầm nắm được do đó gây khó khăn cho nhận biết dịch vụ và quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ. Để nhận biết dịch vụ, phải thông qua những đầu mối vật chất như các trang thiết bị, dụng cụ và con người có liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ.
- Tính không đồng nhất: Quá trình tiêu thụ dịch vụ gắn liền với quá trình sản xuất, trong đó yếu tố con người là chủ đạo trong các khâu cung cấp và sử dụng dịch vụ, do đó không tiêu chuẩn hóa dịch vụ được. - Tính không thể tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ: Để nhận được hiệu quả của dịch vụ thì khách hàng phải trực tiếp đến nơi cung cấp dịch vụ hoặc có những công cụ để sử dụng dịch vụ. Do quá trình sản xuất gắn liền với quá 11 trình tiêu thụ của dịch vụ, vì thế sẽ khó có thể sửa chữa các sai sót trong khi sử dụng dịch vụ như các hàng hóa khác. - Tính không thể dự trữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp.
Do đó, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào trong kho dự trữ được và cũng không thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác. Dịch vụ viễn thông - Dịch vụ viễn thông được giải thích theo Điều 3 của Luật Viễn thông (2009) như sau: “Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.” - Các dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm: Dịch vụ thoại; Dịch vụ fax; Dịch vụ truyền số liệu; Dịch vụ truyền hình ảnh; Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ hội nghị truyền hình; Dịch vụ kênh thuê riêng; Dịch vụ kết nối Internet; Các dịch vụ viễn thông cơ bản khác theo quy định của Bộ TTTT. - Các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng bao gồm: Dịch vụ thư điện tử; Dịch vụ thư thoại; Dịch vụ fax gia tăng giá trị; Dịch vụ truy nhập Internet; Các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ TTTT. Dịch vụ viễn thông là một trong các loại hình dịch vụ, do đó dịch vụ viễn thông cũng có những đặc trưng vốn có của dịch vụ như đã nêu ở mục 2.b đó là tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu thụ đồng thời có sự tham gia của khách hàng và tính không thể dự trữ được.
Khái niệm về chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ điện thoại di động 2. Một số khái niệm về chất lượng dịch vụ Từ trước đến nay, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu xây dựng định nghĩa và đưa ra các mô hình và thang đo để đo lường chất lượng dịch vụ. Một trong những công trình nghiên cứu có đóng góp rất lớn và được ứng dụng rộng rãi đó là nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1991). Parasuraman và cộng sự (1988) đưa ra khái niệm rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của khách hàng khi đã sử dụng qua dịch vụ.
Các tác giả này đã xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ và đặt tên là thang đo SERVQUAL. 12 Dựa trên thành quả nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự, các nhà khoa học tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hơn đồng thời các nhà quản trị cũng ứng dụng rộng rãi kết quả nghiên cứu này vào thực tế. Tại Việt Nam, theo TCVN ISO 9000:2015 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố: “Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan. Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ không chỉ bao gồm chức năng và công dụng dự kiến mà còn bao gồm cả giá trị và lợi ích được cảm nhận đối với khách hàng”.
Chất lượng dịch vụ điện thoại di động Trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông, Theo Điều 4 của Thông tư 05/VBHN- BTTTT của Bộ TTTT quy định về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp viễn thông phải “Thực hiện việc công bố chất lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các dịch vụ viễn thông thuộc “Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng”, mức chất lượng công bố không được trái với mức quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia” và “Tự công bố chất lượng theo tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng đối với các dịch vụ viễn thông không thuộc “Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng” trên trang thông tin điện tử (website) của doanh nghiệp viễn thông”. Tập đoàn VNPT đã thực hiện công bố chất lượng dịch vụ di động VNP tại website www.vn và tại tất cả các điểm giao dịch của VNPT trên toàn quốc. Tóm tắt nội dung bảng công bố chất lượng dịch vụ điện thoại trên mạng viễn thông di động mặt đất (dịch vụ di động VNP). Mức QCVN Mức STT Tên chỉ tiêu 36:2015/BTTTT công bố I Các chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật 1 Độ sẵn sàng của mạng vô tuyến ≥ 95% ≥ 95% 2 Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công ≥ 98% ≥ 98% 3 Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi ≤ 2% ≤ 2% Chất lượng thoại: Tỷ lệ (%) số cuộc gọi có 4 ≥ 90% ≥ 90% điểm chất lượng thoại lớn hơn hoặc bằng 3,0 5 Độ chính xác ghi cước: - Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai ≤ 0,1% ≤ 0,1% 13 Mức QCVN Mức STT Tên chỉ tiêu 36:2015/BTTTT công bố - Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai ≤ 0,1% ≤ 0,1% 6 Tỷ lệ cuộc gọi bị tính cước, lập hóa đơn sai: - Tỷ lệ cuộc gọi bị tính cước sai ≤ 0,01% ≤ 0,01% - Tỷ lệ cuộc gọi bị lập hóa đơn sai ≤ 0,01% ≤ 0,01% II Các chỉ tiêu chất lượng phục vụ 1 Độ khả dụng của dịch vụ (D) D ≥ 99% D ≥ 99% Khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch 2 ≤ 0,25 ≤ 0,25 vụ (số khiếu nại/100 khách hàng/3 tháng) Hồi âm khiếu nại của khách hàng (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải có văn bản hồi 3 âm cho văn bản khiếu nại của khách hàng trong 100% 100% thời hạn 2 ngày làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận khiếu nại) 4 Dịch vụ trợ giúp khách hàng: - Thời gian cung cấp dịch vụ trợ giúp khách 24giờ trong 24giờ trong hàng bằng nhân công qua điện thoại ngày ngày - Tỷ lệ cuộc gọi tới dịch vụ trợ giúp khách hàng chiếm mạch thành công và nhận được tín hiệu ≥ 80% ≥ 80% trả lời của điện thoại viên trong vòng 60 giây (Nguồn: website www.vn) Các nội dung chính trong công bố chất lượng dịch vụ điện thoại di động VNP của VNPT chủ yếu về các chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật và các chỉ tiêu chất lượng phục vụ và tuân thủ theo quy chuẩn Việt Nam QCVN 36:2015/BTTTT.
Khái niệm về hoạt động bán lẻ và bán lẻ dịch vụ viễn thông 2. Bán lẻ Theo Từ điển Kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì “Bán lẻ là việc mua sản phẩm từ các nhà sản xuất, nhà bán buôn hoặc công ty bán lẻ lớn và bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng.