Chương 1: Tổng quan về đề tài. Phần này sẽ giới thiệu lý do thực hiện nghiên cứu, xác định các mục tiêu chung và cụ thể, cũng như đặt ra các câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, sẽ làm rõ phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn, đồng thời nêu bật ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Chương này sẽ tổng hợp các lý thuyết áp dụng trong mô hình nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây về đề tài e dè trong mua hàng và ý định mua hàng nhái. Từ đó, luận văn sẽ định nghĩa các khái niệm và đề xuất giả thuyết nghiên cứu dựa trên quan điểm và phương pháp khoa học, dẫn đến việc hình thành mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương này sẽ xây dựng quy trình và phương pháp nghiên cứu cụ thể dựa trên kiến thức từ môn học phương pháp nghiên cứu khoa học và tài liệu liên quan.
Kết quả là bộ thang đo khảo sát được thiết kế để đánh giá nhận thức và suy nghĩ của đối tượng khảo sát. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chương này, dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng các phần mềm như SPSS và SmartPLS theo các phương pháp đã được mô tả trong chương 3. Thang đo sẽ được đánh giá về độ tin cậy, giá trị hội tụ và tính phân biệt; mô hình nghiên cứu sẽ được kiểm định và các giả thuyết sẽ được kiểm tra và đánh giá trước khi đưa ra các kết luận và khuyến nghị quản trị.
11 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Phần cuối sẽ tóm tắt và so sánh kết quả đạt được từ chương 4 với các nghiên cứu liên quan trước đây và đưa ra các kết luận. Dựa trên những kết quả này, một số hàm ý quản trị sẽ được đề xuất nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của hàng nhái tại Việt Nam. 12 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết nền tảng 2. Lý thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) Được đề xuất năm 1975 bởi nghiên cứu của Ajzen & Fishbein (1975), lý thuyết Hành động hợp lý được phát triển nhằm dự đoán ý định và hành vi của con người. Trong đó, hai nhân tố quan trọng nhất là Thái độ (Attitude) và Quy chuẩn chủ quan (Subjective norms). Hai nhân tố này có tác động tích cực, hình thành ý định thực hiện một hành vi nào đó, dẫn đến việc con người sẽ thật sự thực hiện hành vi đó.
Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) Thái độ: là mức độ mà khách hàng đánh giá, nhận xét, nhận định tích cực về một hành vi nào đó (Ajzen, 1991). Nhân tố này được xem là nhân tố quan trọng bậc nhất trong Lý thuyết Hành vi hợp lý với khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến việc thực hiện hành vi (Anubha & Shome, 2021). Chuẩn chủ quan: được định nghĩa là nhận thức của cá nhân về áp lực xã hội xung quanh, tác động đến quyết định thực hiện hành vi của họ (Ajzen, 1985). Yếu tố này phản ánh khía cạnh xã hội, biểu thị cách mà những kỳ vọng và đánh giá từ xã hội có thể ảnh hưởng đến hành vi của con người qua lăng kính cá nhân (Fang và cộng sự, 2017; Halpenny và cộng sự, 2018).
Là một sinh vật xã hội, con người thường bị ảnh hưởng bởi áp lực xã hội và có xu hướng tuân theo để nhận được sự chấp nhận và công nhận từ người khác; điều này ảnh hưởng đáng kể đến các hành vi của họ (Iriobe & Abiola-Oke, 2019). Lý thuyết TRA thường được sử dụng trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, tiếp thị, truyền thông, và các lĩnh vực khác liên quan đến việc dự đoán và thay đổi 13 hành vi của con người. Nó giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà thái độ và áp lực xã hội ảnh hưởng đến quyết định và hành vi của cá nhân. Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned behavior – TPB) Thuyết hành vi dự định (Theory of Planed Behavior – TPB) được phát triển bởi Ajzen (1991) như một bản mở rộng của Thuyết hành động hợp lý (TRA).
Trong TPB, Ý định thực hiện hành vi của một người được xem xét thông qua đánh giá tổng thể hành vi (Thái độ), áp lực xã hội xung quanh một hành vi (Chuẩn chủ quan) và nhận thức kiểm soát đối với các yếu tố có thể tạo thuận lợi hoặc ức chế hành vi (Kiểm soát hành vi). Và theo nguyên tắc chung, ý định tham gia vào một hành vi càng mạnh mẽ thì càng có khả năng cao là nó sẽ được thực hiện. Ajzen (1991) đề xuất bổ sung nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi, được định nghĩa như nhận định của con người về sự tự do và năng lực kiểm soát hành vi của mình, có thể tác động trực tiếp đến Ý định thực hiện hành vi đó. Thái độ Ý định thực hiện Chuẩn chủ quan Hành vi thực sự hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.
Mô hình Lý thuyết Hành vi dự định Các nghiên cứu trước đây đã từng áp dụng Lý thuyết hành vi dự định trong việc nghiên cứu về ý định và hành vi mua sắm hàng nhái, hàng giả. Một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết hành vi dự định trong ngữ cảnh hàng nhái, hàng giả. Tác giả (năm xuất Nội dung Kết quả bản) Chiu và cộng sự Áp dụng mô hình TPB để Kết quả nghiên cứu cho thấy: (2014) nghiên cứu về ý định (1) Sự né tránh rủi ro có tác động tiêu mua hàng nhái của người cực đến thái độ của người tiêu dùng tiêu dùng trong ngữ cảnh đối với hàng nhái. sản phẩm thể thao.
(2) Thái độ của người tiêu dùng đối với hàng nhái, quy chuẩn chủ quan của xã hội đối với hàng nhái, và nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến ý định mua hàng nhái của khách hàng. Quoquab và cộng sự Nghiên cứu áp dụng lý Kết quả nghiên cứu cho thấy các khía (2017) thuyết TPB để đánh giá cạnh của đạo đức có tác động ngược tác động của khía cạnh chiều đến thái độ của khách hàng đối đạo đức, bao gồm tính với hàng nhái. Bên cạnh đó, thái độ tôn giáo, sự quan tâm về của khách hàng đối với hàng nhái có đạo đức, và thái độ đối tác động tích cực đến ý định mua các với luật pháp đến thái độ sản phẩm này. đối với hàng nhái, dẫn đến hành vi mua hàng nhái.
Zaman và cộng sự Nghiên cứu đánh giá các Kết quả nghiên cứu cho thấy (2018) (1) xu hướng xã hội (bao (1) Các khía cạnh của xu hướng xã gồm: sự nhạy cảm với hội có tác động tích cực đến thái độ quy chuẩn, thông tin, tính đối với hàng nhái. tập thể, tính cá nhân), (2) 15 xu hướng cá thể (tiêu (2) Các khía cạnh của xu hướng cá thể dùng vì vị thế, ý thức về có tác động tích cực đến thái độ đối giá trị, nhận thức rủi ro, với hàng nhái. tính vật chất, thỏa mãn cá (3) Các khía cạnh của xu hướng đạo nhân), và (3) xu hướng đức có tác động tiêu cực đến thái độ đạo đức (lý tưởng hóa, đối với hàng nhái. tính tương đối, tôn giáo, (4) Thái độ đối với hàng nhái có tác và đạo đức) có ảnh động tích cực đến ý định mua hàng hưởng đến ý định mua nhái.
sắm hàng nhái, thông qua vai trò trung gian của thái độ đối với hành vi này. Bupalan và cộng sự Nghiên cứu áp dụng lý Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ, (2019) thuyết hành vi dự định, nhận thức về kiểm soát hành vi, và kết hợp với các yếu tố về mối liên hệ với sản phẩm, có tác thương hiệu và sản phẩm động tích cực đến ý định tiếp tục để đánh giá về tác động mua hàng nhái; trong khi đó, hình của các nhân tố này đến ảnh thương hiệu có tác động tiêu cực ý định tiếp tục mua hàng đến ý định tiếp tục mua hàng nhái. nhái của người tiêu dùng. Garas và cộng sự Áp dụng mô hình TPB Kết quả cho thấy tác động của sự (2023) trong việc đánh giá tác trung lập, nhận thức về rủi ro, và sự động của các nhân tố bao nhạy cảm đối với ảnh hưởng xã hội có gồm: sự trung lập, nhận tác động đến thái độ của khách hàng thức về rủi ro, và sự nhạy đối với hàng nhái, từ đó ảnh hưởng cảm đối với ảnh hưởng đến ý định mua hàng nhái.
xã hội đến ý định mua hàng nhái. Lý thuyết lý lẽ đạo đức (Theory of moral reasoning) Các nghiên cứu trước đây đã từng xem xét thái độ của khách hàng đối với hàng nhái các thương hiệu xa xỉ từ góc nhìn đạo đức. Kohlberg (1976) cho rằng một cá nhân giải quyết các vướng mắc về đạo đức thông qua quá trình lý lẽ và lập luận, để đánh giá các hệ quả mà mình sẽ đạt được thông qua hai khía cạnh là phần thưởng và hình phạt. Hệ quả của quá trình này là một nỗ lực rõ ràng, nhằm đánh giá các nguyên tắc về đạo đức và giá trị của cá nhân, trong sự cân nhắc nhằm đảm bảo các quyết định được đưa ra sẽ thống nhất với danh tính và đảm bảo giá trị của con người từ góc nhìn tập thể và xã hội (Nill & Shultz, 1996).
Theo Phau và cộng sự (2009), vấn đề ở đây là việc đảm bảo sự cân bằng giữa việc tối đa hóa giá trị mà người tiêu dùng đạt được thông qua mua sắm và đảm bảo được xã hội chấp nhận về mặt đạo đức, trong sự tương hợp giữa con người và xã hội. Hành vi tiêu dùng và lựa chọn mua sắm thường chịu tác động bởi những cân nhắc về nguyên tắc được chấp nhận bởi xã hội và né tránh các hành động được xem là thiếu chuẩn mực bởi cộng đồng (Gupta và cộng sự, 2004). Trong trường hợp này, việc chấp thuận hoặc e ngại trong quá trình mua sắm và sử dụng hàng nhái các thương hiệu xa xỉ nổi tiếng sẽ được quyết định thông qua một quá trình tư duy về mặt đạo đức. Trong khi những nhà sản xuất hàng nhái thường từ chối trách nhiệm của mình với các dạng sản phẩm này, và chuyển những gánh nặng này cho người mua, vì nguyên tắc cung – cầu (Cordell và cộng sự, 1996).