Mở đầu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 15 1.6 Tóm tắt chƣơng 1 Trong chƣơng này tác giả đã xác định rõ mục tiêu nghiên cứu và những câu hỏi nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu cũng đƣợc xác định. Chƣơng 2 sẽ trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về OSS ERP, tóm tắt các nghiên cứu liên quan và giới thiệu TOE Framework. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 16 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 OSS và OSS ERP 2.1 OSS Sự phát triển của OSS: Augustin (2010) [20] cho rằng OSS đã phát triển với 5 thế hệ đƣợc chia theo các mốc thời gian nhƣ Hình 2.
Thế hệ đầu tiên của OSS bắt đầu vào năm 1974 với các phần mềm giải trí nhƣ Adventure và Rogue. Năm 1982, thế hệ thứ hai bắt đầu với các công cụ phát triển. Thế hệ thứ ba nổi lên là sự phát triển của hệ điều hành mã nguồn mở nhƣ Linux và FreeBSD vào những năm 1990. Các hệ thống phần mềm nhƣ hệ quản trị cơ sở dữ liệu, trình chủ web phát triển từ năm 1996 và đƣợc Augustin xem là thế hệ thứ tƣ của OSS.
Năm 2004 bắt đầu cho thế hệ thứ năm của OSS với các phần mềm ứng dụng lớn, trong đó bao gồm các hệ thống OSS ERP.1: Khung nhìn 5 thế hệ OSS của Larry Augustin Nguồn: Augustin, 2010 [20] Tổ chức sáng kiến mã nguồn mở (Open Source Initiative) (2011) [21] sử dụng 10 tiêu chuẩn để định nghĩa OSS. Các tiêu chuẩn này liên quan đến các vấn đề về việc tái phân phối miễn phí, về mã nguồn, về sự phát triển trên các phần mềm có s n, về tính toàn v n dành cho mã nguồn của tác giả, về sự không phân biệt cá nhân hay tập thể đối với OSS, về sự không phân biệt lĩnh vực sử dụng, về việc phân phối giấy phép, về sự liên quan giữa giấy phép và sản phẩm, giấy phép phải không giới hạn các phần mềm khác và giấy phép phải trung lập về công nghệ. Đánh giá chung về OSS: Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 17 Dilmurad và cộng sự (2011) [22] tin rằng những lợi ích mà OSS mang lại vƣợt qua những yếu tố bất lợi của chúng. Cùng với sự gia tăng việc chấp nhận sử dụng OSS, những yếu tố bất lợi của OSS sẽ giảm xuống nhanh chóng.
OSS là một dạng thức đặc biệt của sự phát triển, thiết kế và phân phối phần mềm. Nó cho phép truy cập vào mã nguồn chƣơng trình. Bất cứ ai cũng có thể sử dụng, chỉnh sửa, và phân phối lại OSS. Nó cung cấp nhiều sự tự do cho ngƣời sử dụng để họ có thể chỉnh sửa chƣơng trình nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mình (Wheeler, 2007) [23].
Theo Bruce và cộng sự (2006) [15], OSS đã trƣởng thành và có sức mạnh thật sự trong nhiều lĩnh vực nhƣ hệ điều hành, các phần mềm ứng dụng chạy trên máy chủ và các công cụ bảo mật. Một câu hỏi thƣờng xuyên đƣợc đặt ra là nếu OSS là hoàn toàn miễn phí thì các hãng kinh doanh sản phẩm OSS thu lợi nhuận từ đâu để có thể duy trì hoạt động và đầu tƣ phát triển? Theo Fraunhofer IPA và MTA Sztaki (2011) [24], một số mô hình kinh doanh đem lại lợi nhuận cho các tổ chức kinh doanh OSS: Giấy phép kép: một sản phẩm phần mềm đƣợc phân phối với 2 giấy phép, một giấy phép với dạng mã nguồn mở và một giấy phép thƣơng mại. Lõi mở: trong mô hình này, bên cạnh việc cung cấp một phiên bản cơ bản mã nguồn mở thì nhà cung cấp cũng đồng thời cung cấp một phiên bản thƣơng mại có kèm theo một số chức năng nâng cao so với phiên bản cơ bản mã nguồn mở. Bán dịch vụ: các dịch vụ nhƣ đào tạo, tƣ vấn, tùy chỉnh, tích hợp, và hỗ trợ là các sản phẩm mang lại lợi nhuận cho các hãng kinh doanh mã nguồn mở.
Thu lợi gián tiếp: lợi nhuận thu đƣợc từ các sản phẩm không kết nối trực tiếp với sản phẩm mã nguồn mở. Hội viên và sự biếu tặng: thu lợi qua đóng góp của các hội viên và sự biếu tặng từ cộng đồng. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 18 2.2 OSS ERP Focus Research (2009) [25] qua một nghiên cứu đã tóm tắt sự phát triển của ERP từ những năm đầu 1960 đến những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21. Kết quả của nghiên cứu này tƣơng tự nhƣ kết quả của Kumar và Hillegersberg (2000) [33], Rashid và cộng sự (2002) [26], Jacobs và Weston (2007) [27], đồng thời bổ sung thêm tình hình phát triển của những năm 2010 nhƣ Hình 2.2: Sự phát triển của ERP Nguồn: Focus Research, 2009 [25] Thập niên 1960, các hệ thống sản xuất tập trung vào quản lý tồn kho (Inventory Control), vì thế các gói phần mềm quản lý tồn kho đã đƣợc phát triển với mục tiêu tự động quá trình này.
Thập niên 1970, các hệ thống MRP đã đƣợc phát triển. Các hệ thống này dùng để lập kế hoạch sản phẩm theo bảng định mức các nguyên vật liệu (Bills of Materials) và lập kế hoạch sản xuất tổng thể (Master Production Schedules). Thập niên 1980, với sự phát triển của khái niệm MRP II, là một sự mở rộng của khái niệm MRP, nhấn mạnh vào sự tối ƣu các quy trình sản xuất bằng việc đồng bộ việc phân phối các vật liệu với các yêu cầu sản xuất. Thập niên 1990, lần đầu tiên thuật ngữ ERP đƣợc Gartner Group sử dụng, ERP đƣợc xây dựng từ nền tảng là MRP và MRP II, đồng thời nhấn mạnh vào khả năng tích hợp các quy trình kinh doanh giữa các đơn vị chức năng trong tổ chức.
ERP cung cấp khả năng truy cập và sử dụng nhất quán trong toàn bộ tổ chức. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 19 Thập niên 2000, các hãng sản xuất ERP bắt đầu bổ sung các chức năng nhƣ quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management), CRM, lập kế hoạch và lập lịch biểu nâng cao (Advanced Planning and Scheduling), và kinh doanh điện tử (Electronic Business). Từ đó khái niệm ERP II ra đời. Vào những năm 2010, các biến thể khác của các giải pháp ERP đƣợc nhắc đến nhƣ ERP dựa vào nhu cầu và OSS ERP.
Đây là một xu hƣớng trong những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21. Một số nhận định: Mục tiêu của ERP là tích hợp tất cả các bộ phận trong tổ chức vào một cơ sở hạ tầng chung có thể phục vụ nhu cầu từng bộ phận. ERP kết hợp tất cả các đơn vị trong tổ chức vào trong một môi trƣờng phần mềm tích hợp, dựa vào một cơ sở dữ liệu chung, cho phép các bộ phận chia sẻ thông tin với nhau nhanh chóng và tiện lợi (Motiwalla và Thompson, 2009) [28]. Theo Chand và cộng sự (2005) [29], ERP là một hệ thống phần mềm đủ tính linh hoạt để tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Các báo cáo về hoạt động và điều hành có thể đƣợc tạo ra từ hệ thống ERP. Theo Wallace và Kremzar (2001) [30] cho rằng ERP là một tập các công cụ quản lý nhằm cân bằng cung và cầu của tổ chức, có khả năng liên kết khách hàng và nhà cung cấp vào một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, sử dụng các quy trình kinh doanh đã đƣợc kiểm chứng để ra quyết định, tích hợp chéo chức năng giữa các bộ phận bán hàng, tiếp thị, sản xuất, điều hành, vận tải, mua bán, tài chính, phát triển sản phẩm và nhân sự. Vì thế, cho phép doanh nghiệp có thể cung cấp các dịch vụ với chất lƣợng cao, năng xuất cao, chi phí thấp, cung cấp nền tảng cho thƣơng mại điện tử. ERP là các gói phần mềm tích hợp tất cả các chức năng và các quy trình kinh doanh của tổ chức.
ERP tích hợp tất cả thông tin của tổ chức vào trong một cơ sở dữ liệu tập trung, từ đó thông tin có thể đƣợc truy xuất từ nhiều vị trí khác Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 20 nhau trong tổ chức, mức độ truy cập thông tin sẽ tùy thuộc vào quyền hạn đƣợc cấp (Davenport, 2000) [31]. ERP là một hệ thống thông tin tích hợp cho doanh nghiệp, nơi mà các ứng dụng chức năng chia sẻ một cơ sở dữ liệu chung (Markus và Tanis, 2000) [32]. ERP là các gói hệ thống thông tin có khả năng cấu hình, chúng tích hợp thông tin và quy trình bên trong tổ chức và giữa các vùng chức năng khác nhau trong tổ chức (Kumar và Hillsgersberg, 2000) [33]. Theo Gartner Group (2000) [34], ERP là một chiến lƣợc kinh doanh và một tập hợp ứng dụng đặc trƣng miền công nghiệp nhằm xây dựng các giá trị cho khách hàng và cổ đông bằng cách tối ƣu các quy trình tài chính và điều hành bên trong doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau.
Focus Research (2009) [25] đã phân chia các mô-đun của ERP thành 3 nhóm: nhóm mô-đun chéo ngành (Cross Industry Modules), nhóm mô-đun đặc trƣng ngành (Sector-Specific Modules) và nhóm mô-đun mở rộng (Extended Modules) theo nhƣ Hình 2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự chấp nhận sử dụng OSS ERP ở VN Văn Minh Nhật 21 Hình 2.3: Các nhóm mô-đun của hệ thống ERP Nguồn: Focus Research, 2009 [25] Nhóm mô-đun chéo ngành: đƣợc sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Nhóm mô-đun đặc trƣng ngành: hỗ trợ các hoạt động cốt lõi của tổ chức. Hầu hết, mỗi hãng ERP đều tập trung vào các chức năng của một (hoặc vài) ngành công nghiệp đặc trƣng để phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp trong phân khúc thị trƣờng riêng biệt đó.
Nhóm mô-đun mở rộng: hiện nay, hầu hết các mô-đun này đƣợc đóng gói cùng với các mô-đun lõi của ERP. OSS ERP ngoài các chức năng của một hệ thống ERP còn bao gồm cả những đặc trƣng của OSS, làm gia tăng tính linh hoạt, tính thích nghi, tính mở của một hệ thống ERP. Theo Valkov (2008) [35], OSS ERP là một hệ thống nền tảng phục vụ cho việc kinh doanh có tính đổi mới dựa vào sự cộng tác toàn cầu.