Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về việc làm và các yếu tô ảnh hưởng đến quyết định đến việc làm của sinh viên. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng việc làm của sinh viên và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên trường đại học Kinh tế, DHQGHN. - Chương 4: Giải pháp nhằm thu hút sinh viên học tập tại trường đại học Kinh tế, ĐHQGHN về quê làm việc và cống hiến cho địa phương.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Một số nhóm tác giả trong nước cũng đã nghiên cứu về đề tài này, đơn cử là đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên Đại học Duy Tân” của Ths. Mai Thị Quỳnh Như (2020). Nghiên cứu đã tông hợp được 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên đại học Duy Tân: điều kiện kinh tế-xã hội, cơ hội việc làm, ảnh hưởng từ phía gia đình, tình cảm quê hương và thu nhập. Lê Thị Bích Ngọc, Nguyễn Ngọc Hiệp, Nguyễn Đức Anh Huy, Huỳnh Thi Thu Nguyệt (2022) về dé tài “Cac nhân tố ảnh hưởng đến ý định trở về quê hương làm việc của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng băng hồi quy tuyến tính, kết quả chỉ ra răng các biến chuẩn chủ quan, tình cảm quê hương, điều kiện việc làm và thu nhập, hỗ trợ từ gia đình đều ảnh hưởng đến ý định trở về quê hương làm việc của sinh viên khối ngành kinh tế; trong đó, biến chuẩn chủ quan có ảnh hưởng lớn nhất. Bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định về quê làm việc của sinh viên năm cuối trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” được thực hiện bởi nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Nghiêm Thị Kim Oanh, Lê Thị Ngọc Mai (2019) chỉ ra rằng quyết định về quê làm việc của sinh viên năm cuối trường Đại học Công nghiệp Hà Nội chịu ảnh hưởng của 3 nhóm yếu tố chính: cơ hội, môi trường sống và tình cảm. Trong đó nhóm yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định về quê làm việc của sinh viên là cơ hội, sau đó là nhóm yếu tố tinh cảm. Và nhóm yếu tổ ảnh hưởng ít nhất đến quyết định này là môi trường sống.
Kết quả nghiên cứu giúp nhìn nhận được khách quan, chỉ tiết, thiết thực về các nhân tô ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên. Từ đó giúp các địa phương có những kiến nghị, giải pháp, cách thức thu hút sinh viên trở về quê hương làm việc, cống hiến, cũng là dé giúp các sinh viên giải quyết được vấn đề việc làm, giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường. Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn nơi làm việc của cựu sinh viên trường Đại học Công nghệ Đồng Nai” của tác giả Huỳnh Thị Mộng Cầm (2021) chỉ ra rằng các yếu tố bao gồm: chính sách ưu đãi của địa phương, các mối quan hệ và tình cảm quê hương, năng lực bản thân, thu nhập và các khoản chi phí cho cuộc sống, môi trường làm việc là những nguyên nhân chính tác động đến quyết định chọn nơi làm việc của cựu sinh viên sau khi tốt nghiệp, trong đó nhân tố “Nang lực cá nhân” có ảnh hưởng nhiều nhất. Bài nghiên cứu của Nitchapa Morathop, Chamaiporn Kanchanakitsakul, Pramote Prasartkul, Bhuddipong Satayavongthip về đề tài “Ý định làm việc tại quê hương: Sinh viên năm cuối tại Đại học Naresuan, tỉnh Phitsanulok” (2010) đã chỉ ra rằng có 4 yếu tô được cho là có ảnh hưởng đến ý định đó: ý thức về quê hương, mối quan hệ gia đình, kỳ vọng có thu nhập ở quê và chuẩn mực chủ quan của các nhóm tham khảo, bốn yếu tố này có tác động tích cực quan trọng đến ý định quay trở lại làm việc tại quê hương của các sinh viên năm cuối đang học tập tại Đại học Naresuan.
Đề tài nghiên cứu “Các yếu tô ảnh hưởng đến ý định lựa chọn việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp trong bối cảnh Covid 19: Sinh viên ngành Kinh doanh quốc tế trường Đại học Công nghiệp TP.HCM” của nhóm tác giả Nguyễn Bình Phương Duy, Lũng Thị Kiều Oanh và Nguyễn Thị Phương Giang (2022) đã khám phá và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn việc làm của sinh viên năm cuôi chuyên ngành Kinh doanh quôc tê, cụ thê là: nhận thức về bản thân, hỗ trợ xã hội, hỗ trợ gia đình, kinh nghiệm thực tập, thành tích học tập và kỳ vọng tài chính. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp phân tích SEM dựa trên dữ liệu thu thập từ sinh viên năm cuối chuyên ngành Kinh doanh quốc tế trường Đại hoc Công nghiệp TP.HCM và cho ra kết qua cho thay hầu hết các nhân tố đều có tác động đến ý định chọn việc của sinh viên, trong đó sự hỗ trợ của gia đình và kỳ vọng về tài chính được xem là hai nhân tố có tác động mạnh nhất. Cơ sở lý luận về việc làm và các lý thuyết về lựa chọn việc làm 1. Cơ sở lý luận về việc làm 1.
Khái niệm việc làm Theo Wikipedia, việc làm hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lay việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người. Hoặc có thé được định nghĩa một cách khác theo quy định tại Điều 9 Bộ Luật lao động 2012: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cam”, 1. Vai trò của việc làm Khi hiểu đúng nghĩa của khái niệm "việc làm", chúng ta sẽ nhận thấy tâm quan trọng cua nó đôi với cuộc sông xã hội. Việc làm được coi là một van đề cốt lõi và có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế và cuộc sống của mọi người.
Nó có thể ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động trong xã hội và ảnh hưởng đến cả cá nhân: Đối với xã hội: Công việc của mỗi cá nhân cũng là yêu tô có ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội, với cả tác động tích cực và tiêu cực. Nếu mỗi cá nhân có công việc ôn định, đời sống kinh tế sẽ được cải thiện và tệ nạn xã hội sẽ giảm bớt. Ngược lại, nếu không có việc làm, sẽ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực và ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân của mỗi người. Đối với kinh tế: Việc làm được xem là một yếu tô quan trọng góp phan tạo nên thu nhập và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế.
Dé đảm bảo mỗi quan hệ cân bằng giữa kinh tế và việc làm, nền kinh tế cần đảm bảo cung ứng đủ việc làm cho mỗi cá nhân. Đối với cá nhân: Khi có công việc, người lao động sẽ được hưởng lợi về mặt thu nhập, giúp duy trì cuộc sống cá nhân và gia đình. Do đó, việc làm có tac động trực tiếp và anh hưởng đến tat ca các khía cạnh của cuộc sống của mỗi cá nhân. Sự nghiệp của mỗi người sẽ phụ thuộc vào trình độ học vấn, kinh nghiệm và tay nghề.
Các lý thuyết về lựa chọn việc làm 1. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Ajzen và Fishbein đã sáng tạo ra Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20. Sau đó, nó đã được chỉnh sửa và mở rộng vào thập niên 70 và trở thành học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội. Mô hình TRA cho rằng hành vi của một cá nhân phụ thuộc vào ý định của họ đề thực hiện hành vi đó.
Quan hệ giữa ý định và hành vi đã được nêu ra và được kiểm chứng trong nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Ý định được thê hiện thông qua xu hướng thực hiện hành vi và bao gồm các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân. Những yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ dành đề thực hiện hành vi.1: Mô hình thuyết hành động hợp ly (TRA) Niềm tin đối với những thuộc tính của V sản phâm, dịch vụ Thái độ NY Đo lường niêm tin đôi với những thuộc tính của sản phâm, dịch vụ A a ; Y dinh Niêm tin vê những người anh hưởng sẽ nghĩ răng người bị ảnh hưởng nên hay không thực hiện hành vi 2 Chuan chu quan Sự thúc đây làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng Theo lý thuyết TRA của Ajzen và Fishbein, ý định hành vi (Behavior (Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989, trích trong Chutter M.3) Intention - BI) là yếu tô quan trọng nhất dé dự đoán hành vi. Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính: thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior - AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) (Hình 1.
Trong đó, thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của người tiêu dùng đối VỚI Sản phẩm, dịch vụ, hoặc đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ của những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có ý định thực hiện hành vi như: người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) nghĩ rằng người đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi (Ajzen, 1991, tr. Ý định hành vi (BI) là một hàm gồm thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan đối với hành vi đó.S5N 12 Trong đó, W1 và W2 là các trọng số của thái độ (AB) và chuẩn chủ quan (SN). Theo Gordron Allport (1970): “Thai độ là một thiên hướng tổng quát về một người hay vật”.
Theo Turstone (Mowen & Monor, 2006, tr. 124): “Thái độ là một lượng cảm xúc thể hiện sự thuận lòng hay trái ý của một người về một ngoại tác nào đó”. Theo Sschiffinan & Kanuk (1987), thái độ được miêu tả gồm 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc hay sự ưa thích và ý định hành vi. Trong đó: Nhận thức liên quan đến sự hiểu biết về một đối tượng thông qua những thông tin nhận được liên quan đến đối tượng đó và kinh nghiệm có được khi thực hiện hành vi đó, từ đó hình thành niềm tin của họ đối với hành vi.
Cảm xúc hay sự ưa thích đại diện cho cảm giác chung về việc thích hay không thích đối tượng đó.