Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 Chƣơng 1.1 Tổ ng quanvấn đề nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Chất lượng giáo dục dành cho học sinh khuyết tật sẽ bị đe dọa khi thiếu giáo viên GDĐB có trình độ. Bỏ nghề là một trong những yếu tố gây ra vấn đề thiếu giáo viên, và cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc thúc đẩy sự gắn bó với nghề bằng việc nâng cao hiểu biết về những yếu tố góp phần làm cho GV gắ n bó hay bỏ nghề GDĐB. Nhóm nghiên cứu đề tài gần như chưa tìm thấy nghiên cứu đáng kể nào về thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành GDĐB cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường với tấm bằng cử nhân GDĐB của các nhà nghiên cứu trong nước. Do vấn đề GDĐB nói chung và phát triển đội ngũ cán bộ liên quan đến ngành GDĐB còn khá mới mẻ ở Việt Nam.
Tuy nhiên các nghiên cứu của nước ngoài chúng tôi tham khảo được lại khá phong phú. Cụ thể, phần dưới đây tổng hợp những kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó hay từ bỏ nghề giáo viên GDĐB. Năm nhóm yếu tố chính đó là: (1) đặc điểm nhân khẩu, (2) các yếu tố cá nhân, (3) trình độ chuyên môn, (4) môi trường làm việc, và (5) các phản ứng tình cảm của giáo viên với công việc.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm nhân khẩu Mối quan hệ giữa đặc điểm của người giáo viên với sự bỏ nghề đã được nghiên cứu khá rộng rãi trong các nghiên cứu về sự bỏ nghề của giáo viên phổ thông suốt hai thập kỷ qua (Darling-Hammond & Sclan năm 1996; Grissmer & Kirby, 1987), nhưng vấn đề này ít được chú ý trong nghiên cứu GDĐB. Mặc dù một số nhà nghiên cứu GDĐB đã điều tra mối quan hệ giữa sự bỏ nghề và các biến liên quan đến nhân khẩu học (ví dụ, tuổi, giới tính và chủng tộc), họ có thể rút ra một số kết luận về đặc điểm của người giáo viên đối với sự bỏ nghề.
Tuổi tác là biến nhân khẩu học duy nhất có liên hệ nhất quán với sự bỏ nghề trong lịch sử GDĐB. Các nhà nghiên cứu đều cho thấy rằng các giáo viên GDĐB trẻ hơn có nhiều khả năng bỏ nghề (hoặc có ý định bỏ nghề) hơn so với các giáo viên GDĐB lớn tuổi hơn (Boe, Bobbitt, Cook, Whitener, và cộng sự, 1997;. Cross & Billingsley, 1994; Morvant et. Singer (1993a) phát hiện ra rằng các giáo viên GDĐB còn trẻ bỏ nghề với tỉ lệ gần gấp đôi so với giáo viên lớn tuổi.
Trước đó, Grissmer và Kirby (1987) cho thấy kiểu hình bỏ nghề giáo viên đối với cả giáo viên phổ thông và giáo viên GDĐB theo một đường cong hình chữ U. Tỉ lệ bỏ nghề cao trong giới giáo viên trẻ tuổi, thấp trong giới giáo viên trung tuổi, và lại cao trong giới giáo viên nghỉ hưu. Miller và cộng sự (1999) báo cáo rằng các giáo viên GDĐB trẻ có nhiều khả năng chuyển hơn giáo viên lớn tuổi, tuy nhiên, kết quả này đã không đúng với những người bỏ việc. Các giáo viên có ít kinh nghiệm hơn lại có nhiều khả năng bỏ việc hơn (Miller và cộng sự, 1999) và cũng thể hiện ý định bỏ việc thường xuyên hơn những người có nhiều kinh nghiệm (Cross & Billingsley, 1994; Gersten và cộng sự năm 2001; Morvant và cộng sự, 1995; Singh & Billingsley, 1996).
Điều này là đáng mong đợi vì tuổi tác và kinh nghiệm giảng dạy liên quan chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên hiện nay có nhiều người bắt đầu giảng dạy khi họ lớn tuổi, thường là nghề nghiệp thứ hai, vì vậy vấn đề tuổi nên được kiểm soát trong khi kiểm nghiệm. Tuổi tác có tác động đến vấn đề cung - cầu cũng như duy trì giáo viên. Vì tỉ lệ bỏ nghề rất nhạy cảm đối với đặc điểm của người giáo viên, "sự kiên định với nghề của người giáo viên có thể thay đổi các thành phần làm thay đổi đội ngũ giáo viên" (Murnane, Singer, và Willett, 1988, tr.
Lý do có tỉ lệ bỏ nghề cao hơn ở các giáo viên trẻ đã được thảo luận khá rộng rãi trong lịch sử nghiên cứu. Trong khi một số giáo viên mới vào nghề nhận thấy hài lòng với công việc giảng dạy, những người khác lại thấy thất vọng và những khó khăn ban đầu khiến họ chán nản không muốn tiếp tục duy trì vị trí công việc của họ (Grissmer & Kirby, 1987; Heyns, 1988, Singer, 1993a). Grissmer và Kirby (1987) cũng chỉ ra rằng những giáo viên trẻ ít có nghĩa vụ hơn và ít đầu tư vào một nghề 8 nghiệp hoặc vị trí cụ thể. Những giáo viên giàu kinh nghiệm bỏ nghề thì phải đối mặt với chi phí bồi dưỡng, cũng như không được bổ nhiệm là giáo viên chính thức và phụ cấp thâm niên (Singer, 1993a).
Các yếu tố liên quan đến tuổi cũng bao gồm các giai đoạn chu kỳ sống (ví dụ, nuôi con nhỏ, nghỉ hưu) cũng như nhu cầu và sở thích cá nhân. Mối quan hệ giữa giới tính và sự bỏ nghề đã được nêu ra trong một số ít nghiên cứu GDĐB và kết quả rất khác nhau. Boe, Bobbitt, Cook, Whitener, và cộng sự (1997) đã không tìm thấy mối quan hệ giữa vấn đề giới tính và bỏ nghề trên mẫu quốc gia gồm các giáo viên GDĐB hoặc phổ thông. Hơn nữa không tìm thấy được mối quan hệ giữa giới tính và vấn đề thay đổi công việc trong các nghiên cứu cấp nhà nước về hành vi (Miller và cộng sự, 1999) và mục đích (Cross & Billingsley, 1994) bỏ nghề.
Tuy nhiên, trong một nghiên cứu về các giáo viên GDĐB ở khu vực đô thị, Morvant và cộng sự (1995) thấy rằng giáo viên nam thể hiện ý định bỏ việc nhiều hơn nữ. Singer (1993a) phát hiện ra rằng các nữ giáo viên GDĐB trẻ lại bỏ lớp với tỉ lệ cao hơn và tỉ lệ gắn bó với lớp ở mức tương tự như nam giới. Các kết quả nghiên cứu không thống nhất có thể là do sự khác biệt về phương pháp và mẫu nghiên cứu đã sử dụng cũng như do có sự thay đổi trong lực lượng lao động theo thời gian. Ví dụ, dữ liệu của Singer (1993a) lấy từ một cơ sở dữ liệu suốt khoảng từ năm 1972-1983, trong khi những phát hiện gần đây (Boe, Bobbitt, Cook, Whitener, và cộng sự, 1997; Miller và cộng sự, 1999) phản ánh về tình hình giáo viên của hơn một thập kỷ sau đó.
Như Darling-Hammond và Sclan (1996) chỉ ra, trong các thời kỳ trước, những phụ nữ trẻ có nhiều khả năng bỏ việc hơn nam giới cũng như phụ nữ lớn tuổi. Không tìm thấy có sự khác biệt trong hành vi bỏ nghề của các giáo viên thuộc các chủng tộc khác nhau trong một nghiên cứu quốc gia gần đây về tình hình giáo viên GDĐB (Boe, Bobbitt, Cook, Whitener, và cộng sự, 1997), cũng như nghiên cứu ở Florida (Miller và cộng sự, 1999), Bắc Carolina và Michigan (Singer, 1993a). Ở Virginia, Cross và Billingsley (1994) phát hiện ra rằng người da 9 trắng có nhiều khả năng gắn bó với nghề nhưng nghiên cứu của họ tập trung về ý định, chứ không phải hành vi thực tế. Trong một nghiên cứu về các giáo viên GDĐB làm việc trong khu vực đô thị, tỷ lệ giáo viên người Mĩ gốc Âu bỏ việc cao hơn giáo viên người Mĩ gốc Phi (Billingsley và cộng sự, 1995).
Phát hiện này là phù hợp với Dworkin (1980) cho rằng giáo viên người da trắng, đặc biệt là phụ nữ, có ý muốn bỏ những vị trí dạy học ở trường đô thị nhiều hơn người da đen hoặc gốc Tây Ban Nha.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân Vấn đề tài chính cá nhân và các cơ hội nhận được có thể làm ảnh hưởng đến việc giáo viên ở lại hay ra đi. Những giáo viên GDĐB, "những người trụ cột gia đình" có nhiều khả năng ở lại so với những người không phải trụ cột chính của gia đình (Westling & Whitten, 1996). Tuy nhiên, Billingsley và Cross (1992) đã không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt giữa tình trạng "trụ cột gia đình" và ý định ở lại hay ra đi. Những giáo viên GDĐB nào có khả năng tìm được vị trí công việc khác với giảng dạy thì có dự định đi dạy trong thời gian ngắn hơn so với những người ít có cơ hội khác ngoài giảng dạy (Cross & Billingsley,1994; Singh và Billingsley, 1996).
Cross và Billingsley cho rằng giáo viên có trình độ học vấn cao hơn, kinh nghiệm ít hơn, và thuộc về nhóm thiểu số có ý định bỏ việc nhiều hơn vì họ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp ngoài ngành giáo dục khác tốt hơn. Trong một số nghiên cứu định tính, các giáo viên đã chỉ ra những lý do cá nhân không liên quan đến công việc góp phần vào quyết định bỏ việc của họ (Billingsley và cộng sự, 1993;. Billingsley và cộng sự, 1995; Brownell, Smith, McNellis, & Miller, 1997; Morvant và cộng sự, 1995).Trong một nghiên cứu gồm 99 giáo viên những người đã bỏ việc ở trường học thuộc khu vực đô thị, Billingsley và cộng sự (1995) phát hiện ra rằng 37% các giáo viên GDĐB so với 53% các giáo viên giáo dục phổ thông đã bỏ việc chủ yếu vì lý do cá nhân, ví dụ như, gia đình hoặc người thân chuyển đi, mang thai, nuôi con, sức khỏe, nghỉ hưu. Những lý do cá nhân thường được coi là lý do đầu tiên khi người ta bỏ việc và được coi là "quan trọng" trong quyết định ra đi.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của trình độ chuyên môn Vấn đề trình độ giáo viên nhận được ít sự quan tâm trong các tài liệu nghiên cứu về vấn đề từ bỏ GDĐB hơn bất kỳ khía cạnh khác.
Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề từ bỏ GDĐB đều bao gồm các biện pháp đo tương đối dễ đạt mà đôi khi được giả định là chỉ số cơ bản về chất lượng (ví dụ, văn bằng, mức độ đạt được, năng lực thực hiện các bài thi, và kinh nghiệm). Bởi vì thật khó thống nhất được thế nào là người giáo viên "chất lượng" (Blanton và cộng sự, 2002), việc lựa chọn bất kỳ biện pháp nào cũng có thể sẽ gây tranh cãi. Các biến, ví dụ như, bản chất của kiến thức được đào tạo, giảng dạy học sinh, kỹ năng sư phạm hoặc hiệu quả dạy học rất ít khi được đề cập đến trong phần lớn các báo cáo về tình hình bỏ nghề GDĐB. Có một số bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa bằng cấp với việc bỏ nghề của giáo viên GDĐB.
Trong một nghiên cứu trên 1.