phần mở đầu, kết luận thì luận văn nghiên cứu đƣợc trình bày với kết cấu gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Hàm ý quản trị 7. Tổng qu n tài liệu Đánh giá, bình chọn trực tuyến đối với các trang web đã phổ biến rộng rãi ở các nƣớc trên thế giới, nhƣng vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ tại Việt Nam. Do đó, trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả chủ yếu tham khảo các bài báo của các tác giả nƣớc ngoài và các nghiên 6 cứu trƣớc liên quan đến niềm tin của ngƣời dùng đối với trang web bình chọn trực tuyến. Cá tài liệu th m khảo hính b o gồm: - Đối với vấn đề hoạt động đánh giá, bình chọn trực tuyến của ngƣời dùng tác giả tham khảo các tài liệu: Nghiên cứu vể niềm tin của ngƣời tiêu dùng đối với đánh giá bình chọn trực tuyến (Martina Menfors & Felicia Fernstedt, 2015); Đánh giá bình chọn trực tuyến: phƣơng thức truyền miệng mới (National restaurant association, 2013); Tính hữu ích của đánh giá bình chọn trực tuyến? thực nghiên đối với trang web du lịch (Zhiwei Liu & Sangwon Park, 2013); Hiệu ứng bất đối xứng của đánh giá trực tuyến (Sangwon Park & Juan L.
Nicolau, 2015),… - Đối với vấn đề trang web bình chọn trực tuyến tác giả tham khảo một số tài liệu chính nhƣ: Nghiên cứu vể tính hữu ích của đánh giá bình chọn trực tuyến? thực nghiệm đối với trang web du lịch (Zhiwei Liu & Sangwon Park, 2013); Niềm tin của ngƣời tiêu dùng đối với đánh giá bình chọn trực tuyến (Martina Menfors & Felicia Fernstedt, 2015). - Đối với nội dung niềm tin trực tuyến, tác giả chủ yếu tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu về niềm tin của ngƣời tiêu dùng đối với đánh giá bình chọn trực tuyến (Martina Menfors & Felicia Fernstedt, 2015); Ảnh hƣởng đến lòng tin của ngƣời tiêu dùng về đánh giá sản phẩm trực tuyến (Pradeep racherla1, Munir mandviwalla and Daniel j. connolly, 2012);… - Đối với nội dung các nhân tố ảnh hƣởng đến niềm tin của ngƣời dùng đối với các trang web bình chọn trực tuyến, tác giả chủ yếu tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu của Menfors & Felicia Fernstedt (2015); Nghiên cứu của Raffaele Filieri, 2015; Nghiên cứu của Mei-hsin Wu, 2014; Nghiên cứu của Shan Ya, 2014; Nghiên cứu của Julian K. Ayeh , Norman Au , and Rob Law, 2013;… 7 Bảng tổng hợp á tài liệu nghiên ứu hính Vấn đề Tên nghiên ứu Tá giả, năm - Niềm tin của ngƣời tiêu dùng - Martina Menfors đối với đánh giá bình chọn trực & Felicia Fernstedt, tuyến.
2015 - Đánh giá bình chọn trực - National Hoạt động đánh tuyến: phƣơng thức truyền restaurant giá, bình chọn miệng mới. trực tuyến - Điều làm cho đánh giá trực - Zhiwei Liu & tuyến trở nên hữu ích Sangwon Park, 2013. - Ảnh hƣởng bất đối xứng của - Sangwon Park & đánh giá trực tuyến. - Điều làm cho đánh giá trực - Zhiwei Liu & tuyến trở nên hữu ích? Nghiên Sangwon Park, 2013 cứu thực nghiệm tại các trang Trang web bình web du lịch.
chọn trực tuyến - Niềm tin của ngƣời tiêu dùng - Martina Menfors đối với đánh giá bình chọn trực & Felicia Fernstedt, tuyến. - Niềm tin của ngƣời tiêu dùng - Martina Menfors đối với đánh giá bình chọn trực & Felicia Fernstedt, tuyến. Niềm tin trực - Sự ảnh hƣởng đến niềm tin - Pradeep racherla, tuyến của ngƣời dùng đối với hoạt Munir mandviwalla động đánh giá trực tuyến. connolly, 2012 8 Vấn đề Tên nghiên ứu Tá giả, năm - Niềm tin của ngƣời dùng đối - Martina Menfors với đánh giá bình chọn trực & Felicia Fernstedt, tuyến – Quan điểm mô hình 2015.
- Tại sao ngƣời tiêu dùng lại tin - Raffaele Filieri, vào Tripavisor? Nghiên cứu 2015 niềm tin của ngƣời dùng đối với phƣơng tiện huy động thông tin khách hàng. - Mối quan hệ giữa tính tin cậy Các nhân tố ảnh của nguồn tin điện tử với rủi ro hƣởng đến niềm cảm nhận và hành vi của ngƣời - Mei-hsin Wu, tin đối với trang dùng đối với phƣơng tiện huy 2014 web bình chọn động thông tin khách hàng. - Độ tin cậy của các bài đánh giá bình chọn trực tuyến: nghiên cứu đối với nét tƣơng đồng, sự uy tín của nguồn tin, chất lƣợng - Shan Ya, 2014 bình luận đến niềm tin của ngƣời dùng. - Bạn có nên tin tƣởng Tripavisor không?” Kiểm tra sự - Julian K.
Ayeh , tin cậy và thái độ của du khách Norman Au , and về việc sử dụng các thông tin Rob Law, 2013. đƣợc tạo bởi ngƣời tiêu dùng. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NIỀM TIN ĐỐI VỚI TRANG WEB BÌNH CHỌN TRỰC TUYẾN Nội dung chƣơng 1 sẽ trình bày tổng hợp các lý thuyết liên quan đến niềm tin đối với trang web bình chọn trực tuyến. Cụ thể, bao gồm các nội dung sau: lý thuyết về niềm tin, lý thuyết về đánh giá bình chọn trực tuyến, trang web đánh giá bình chọn trực tuyến, và niềm tin của ngƣời dùng đối với các trang web bình chọn trực tuyến cũng nhƣ trình bày rõ các yếu tố ảnh hƣởng đến niềm tin của ngƣời dùng đối với loại trang web này.
LÝ THUYẾT VỀ NIỀM TIN (TRUST) Niềm tin là một khái niệm trừu tƣợng đƣợc nghiên cứu rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, môn học và mỗi môn học có các định nghĩa tƣơng ứng. Đó là do có sự khác nhau trong quan điểm về các vấn đề và phƣơng pháp nghiên cứu, vì vậy trong các lĩnh vực khác nhau thì định nghĩa về niềm tin cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, chúng cũng có tính giao nhau giữa các định nghĩa trong các lĩnh vực khác nhau, vì vậy nhìn chung các định nghĩa này cũng có tính nhất quán. Dƣới đây là tổng quan về một số khái niệm về niềm tin trong từng lĩnh vực.
Niềm tin trong xã hội họ Vào đầu thế kỷ 20, nhà xã hội học ngƣời Đức Georg Simmel (1908) lần đầu tiên đã thảo luận về vấn đề niềm tin trong cuốn sách Xã hội học của ông: Các cuộc điều tra về các hình thức thuộc xã hội, xây dựng một khung lý thuyết để phân tích niềm tin. Ông cho rằng, niềm tin là rất quan trọng đối với xã hội. Nếu không có niềm tin, xã hội sẽ trở nên hỗn loạn. Lý do là mối quan hệ này khó có thể đƣợc xây dựng trên nhận thức chính xác của ngƣời khác.
Nếu niềm tin không mạnh bằng bằng chứng hợp lý ho c kinh nghiệm cá nhân 10 ho c thậm chí mạnh hơn các mối quan hệ thì rất khó để duy trì. Trong xã hội học, niềm tin đƣợc coi là một quá trình truyền thông giữa các cá nhân, bắt nguồn từ nhu cầu cơ bản của hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Khi những kỳ vọng lý trí không xảy ra, niềm tin đóng vai trò quan trọng. Trong cuốn sách “Niềm tin và Sức mạnh” của nhà xã hội học ngƣời Đức Luhmann (1979) chỉ ra rằng chức năng của niềm tin là tái tạo lại ho c để giảm sự phức tạp ngày càng tăng của xã hội.
Niềm tin có chức năng tạo ra một cảm giác an toàn để bù đắp cho việc thiếu các thông tin cần thiết. Lý thuyết của Luhmann cho rằng "Hoạt động niềm tin như là một cổ máy làm giảm đi tính phức tạp của xã hội" là một cơ sở lý thuyết quan trọng và tham khảo cho nghiên cứu của học giả sau này. Các nhà nghiên cứu dựa trên những điều này đã thảo luận thêm về giá trị của niềm tin trong lĩnh vực xã hội, lĩnh vực kinh tế và đ c biệt trong lĩnh vực giao dịch. Niềm tin cũng đƣợc coi là sản phẩm của hệ thống xã hội và các quy tắc văn hoá, một hiện tƣợng xã hội đƣợc hình thành cơ bản dựa trên đạo đức và phong tục tập quán.
Nhà xã hội học Lewis & Weigert (1985) xác định niềm tin nhƣ là một thuộc tính tập thể của các đơn vị tập thể (các nhà nghiên cứu, các nhóm và tập thể). Nó liên quan đến sự tƣơng tác giữa con ngƣời chứ không phải là đ c điểm của những cá thể biệt lập. Lewis & Weigert tin rằng có ba cơ sở trong lĩnh vực xã hội cấu thành lên niềm tin: các yếu tố nhận thức, cảm xúc và hành vi. Trong suốt các nghiên cứu của các nhà xã hội học, hầu hết họ đều xác định niềm tin nhƣ là một thƣớc đo quan trọng của các quan hệ xã hội từ quan điểm xã hội học.
Họ tin rằng niềm tin xuất phát từ xã hội và không thể tồn tại độc lập với xã hội và văn hoá. Do đó các nghiên cứu xã hội học về niềm tin thƣờng tập trung vào tác động của các yếu tố xã hội và văn hoá vào niềm tin. Nhƣ vậy, có thể nhận thấy các khái niệm này vẫn còn thật sự mơ hồ, sơ khai 11 và chƣa mang tính chất cụ thể, rõ ràng. Niềm tin trong tâm lý họ Trong lĩnh vực tâm lý học, niềm tin lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu nhƣ là yếu tố tác động về mối quan hệ giữa các cá nhân.
Vào những năm 1950, Deutsch (1958) đã sử dụng trò chơi “Hai người kết cục phi zero” là một biến thể của “Tình cảnh khó khăn của tù nhân”, để nghiên cứu niềm tin giữa các cá nhân bằng cách khám phá cách mà mọi ngƣời giải quyết xung đột. Ông đƣa ra quan điểm, niềm tin là một hành vi cá nhân, đáp ứng các điều kiện, và mức độ tin tƣởng sẽ thay đổi theo sự thay đổi của ngữ cảnh. Trong nghiên cứu của mình, ông đã định nghĩa niềm tin của một ngƣời gắn với một sự kiện nhất định vì ông kỳ vọng sự xuất hiện của nó và mong đợi của ông dẫn đến các hành vi tƣơng ứng. Rotter (1980) đã định nghĩa niềm tin giữa các cá nhân với nhau nhƣ là “Một kỳ vọng chung chung ảnh hưởng bởi một cá nhân thông qua lời nói, lời hứa, các tuyên bố miệng hay bằng văn bản của một cá nhân hay một nhóm khác”.
Ông tin rằng những kỳ vọng chung chung khác nhau giữa các cá nhân và chứng tỏ niềm tin ảnh hƣởng tích cực đến con ngƣời và toàn xã hội bằng các thí nghiệm. Moorman và cộng sự (1992) đã định nghĩa niềm tin là "Một sự sẵn lòng dựa vào một đối tác trao đổi mà người ta tin tưởng". Rousseau, Sitkin, Burt & Camerer (1998) cho rằng: Niềm tin là một trang thái tâm lý bao gồm ý định để chấp nhận những rủi ro dựa trên những kì vọng tích cực về ý định ho c hành vi của ngƣời khác.