chương 1 tác giả đã nêu lên lý do chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, đồng thời cũng nêu bật được mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và đóng góp của nghiên cứu này. Đồng thời, tác giả cũng tiến hành chia bố cục luận văn theo kết cấu 5 chương và thể hiện nội dung cơ bản của từng chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Luật Các tổ chức tín dụng 2010 tại Việt Nam định nghĩa “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Và cũng theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010, “hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Chính vì lẽ đó, hoạt động ngân hàng trở thành hoạt động kinh doanh có vai trò và chức năng đặc biệt trong nền kinh tế. Về mặt kết quả hoạt động của ngân hàng, chúng có thể được đo lường, đánh giá dưới những góc độ khác nhau và ở góc độ kinh doanh đó chính là HQHĐ.
Ta có thể hiểu một cách khái quát rằng HQHĐ của ngân hàng chính là những kết quả về lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Nguyễn Ngọc Huyền (2018), hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh). Đối với hai phương diện này thì hiệu quả kinh tế có tính quyết định.
Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), HQHĐ trong hoạt động của NHTM có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: Thứ nhất là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lợi hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác; thứ hai là xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. 8 HQHĐ có vai trò quan trọng đến uy tín và sự tồn tại lâu dài của ngân hàng, nếu một ngân hàng có HQHĐ tốt thì sẽ nâng cao được uy tín của mình, đồng thời cũng sẽ thu hút được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng mình. Chính vì thế, phân tích HQHĐ sẽ giúp nhà quản trị của các NHTM có căn cứ xác thực, quan trọng cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển kinh doanh của ngân hàng, nhờ vậy sẽ đưa ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn. Lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Theo nghiên cứu của Bernanke, Gertler & Gilchrist (1999), lý thuyết gia tốc tài chính bao gồm những phát triển nội sinh trên thị trường tín dụng có tác động khuếch đại và truyền bá các cú sốc đối với nền kinh tế vĩ mô.
Những đột phá trong kinh tế học về thông tin không đầy đủ và bất cân xứng đã tạo ra những phân tích lý thuyết chính thức hơn về sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng. Đặc điểm chung của hầu hết các vấn đề đa dạng có thể xảy ra trên thị trường tín dụng là sự bất cân xứng về thông tin ngày càng trầm trọng hơn và chi phí đại lý liên quan tăng lên. Trên thị trường tại thời điểm hiện tại, người cho vay hầu như có rất ít thông tin liên quan đến độ tin cậy của người đi vay. Cũng chính vì lẽ đó, để một doanh nghiệp có thể vay vốn trên thị trường thì bắt buộc họ phải trả một phần “phí bảo hiểm tài chính bên ngoài" (chênh lệch giữa chi phí huy động vốn bên ngoài và chi phí cơ hội của nguồn vốn nội bộ công ty).
Trường hợp nếu giá tài sản giảm làm giá trị bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp cũng giảm, điều này sẽ có tác động tiêu cực đến khả năng vay vốn của doanh nghiệp trên thị trường kinh tế. Những tác động tiêu cực này có thể liên tục ảnh hưởng và ngày càng làm cho giá tài sản của doanh nghiệp giảm sâu hơn, một chu kỳ tuần hoàn diễn ra bao gồm: giá tài sản giảm, bảng cân đối suy giảm, thắt chặt điều kiện tài chính và giảm hoạt động kinh tế. Tương tự, khi giá tài sản tăng thì giá trị tài sản thế chấp cũng sẽ tăng lên làm giảm chi phí đi vay và có thể tác động lớn hơn đến tổng sản lượng so với mong đợi. Những tác động ban đầu lên dòng tiền và giá trị ròng sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực của chính sách tiền tệ, phí tài chính bên ngoài và những thay đổi trong việc đầu tư của doanh nghiệp.
Vòng 9 tuần hoàn như trên được gọi là một quá trình gia tốc tài chính, bắt đầu từ một sự thay đổi nhỏ trong thị trường tài chính, có thể tạo ra một sự thay đổi lớn trong điều kiện kinh tế. Sự tồn tại của cơ chế gia tốc tài chính trên thị trường tài chính khiến cho chính sách tiền tệ có hiệu lực hơn và các biến liên quan đến quá trình phát triển của các trung gian tài chính góp phần khuếch đại sự tác động của lãi suất chính sách tiền tệ (Genberg, 2008). Theo lý thuyết kênh tín dụng của Bernanke & Gertler (1995), tác động trực tiếp của chính sách tiền tệ lên lãi suất được khuếch đại bởi những thay đổi nội sinh trong phần bù tài trợ bên ngoài, là sự chênh lệch về chi phí giữa các nguồn vốn huy động từ bên ngoài (bằng cách phát hành vốn chủ sở hữu hoặc nợ) và các quỹ được tạo ra từ bên trong (bằng cách giữ lại thu nhập). Quy mô của khoản bù đắp tài chính bên ngoài phản ánh sự không hoàn hảo trên thị trường tín dụng dẫn đến sự chênh lệch giữa lợi tức kỳ vọng mà người cho vay nhận được và chi phí mà người đi vay tiềm năng phải đối mặt.
Theo "quan điểm tín dụng", một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ có thể làm tăng hoặc giảm lãi suất thị trường và có xu hướng làm thay đổi phần bù tài chính bên ngoài theo cùng một hướng. Do tác động bổ sung này của chính sách đối với tài chính bên ngoài, tác động của chính sách tiền tệ đối với chi phí đi vay được xác định rộng rãi và do đó, đối với chi tiêu thực và hoạt động thực - được tăng lên. Ciccarelli và cộng sự (2015), Bruno và Shin (2015) đã chỉ ra rằng có hai kênh chính tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp là: Kênh bảng cân đối kế toán và kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống NHTM. Đối với kênh bảng cân đối kế toán, các nghiên cứu trên nhấn mạnh tác động tiềm tàng của những thay đổi trong chính sách tiền tệ đối với bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của người đi vay, khi lãi suất gia tăng sẽ tác động đến chi phí và làm giảm giá trị ròng của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp khó tiếp cận với các khoản vay hơn.
Tiếp đến, đối với kênh cho vay ngân hàng, tập trung hẹp hơn vào tác động có thể có của các hành động chính sách tiền tệ đối với việc cung cấp các khoản vay của các tổ chức lưu ký. Theo quan điểm của Bernanke & Gertler (1995), sự tồn tại của kênh bảng cân đối kế toán dường như đã được thiết lập 10 khá tốt. Kênh cho vay của ngân hàng còn nhiều tranh cãi. Những thay đổi về thể chế trong hơn 15 năm qua đã khiến kênh cho vay của ngân hàng, ít nhất là theo quan niệm truyền thống, có phần kém hợp lý hơn.
Mặt khác, một số sự phát triển có thể đã làm tăng tầm quan trọng việc cho vay của ngân hàng trong việc luân chuyển tiền tệ. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã đưa ra góc nhìn rộng hơn rằng việc cho phép một số kênh tín dụng là quan trọng để hiểu được phản ứng của nền kinh tế đối với những thay đổi trong chính sách tiền tệ. Đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Để phân tích HQHĐ của các NHTM, những nhà nghiên cứu sẽ ưu tiên sử dụng các hệ số chỉ tiêu tài chính, bởi lẽ, đây là phương pháp phân tích đơn giản, số liệu có thể tính toán dựa trên các báo cáo tài chính mà các NHTM công bố rộng rãi. Và đặc biệt, những nhà quản trị có thể dựa vào những chỉ số tài chính đó để đưa ra sự phân tích, so sánh tình hình tài chính giữa các NHTM.
Yêu cầu đặt ra ở đây là việc chọn lựa chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp và có thể phản ánh một cách khách quan nhưng vẫn trung thực về năng lực tài chính của các NHTM. Các chỉ số để đo lường HQHĐ bao gồm ROA, ROE, NIM,… theo Judijanto và Khmaladze (2003) thì ROA và ROE sẽ được ưa thích hơn hết bởi các cơ quan quản lý, đây cũng là hai chỉ tiêu tài chính được dùng trong đánh giá tỷ suất sinh lời phổ biến nhất của hoạt động ngân hàng. Chính vì thế, trong luận văn này, tác giả cũng sẽ tập trung vào hai chỉ số ROA, ROE làm tiền đề cho việc đánh giá HQHĐ của NHTM. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Tỷ lệ này được tính bằng tỷ số phần trăm của lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp, đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của một ngân hàng.
Nó thể hiện được hiệu quả quản lý cũng như ngân hàng đã sử dụng tài sản của mình để có thể tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận, tỷ số ROA càng cao thì chứng minh khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao.