CHƯƠNG 1 Chương một đã trình bày khái quát về sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT cũng như TMDĐ trên thế giới và tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chương một cũng cho thấy sự cần thiêt của việc nghiên cứu về hành vi MHNH trong thương mại di động. Từ đó hình thành lý do cho việc lựa chọn đề tài của nghiên cứu này. Ngoài ra, chương một cũng khái quát những nội dung quan trọng như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và ý nghĩa của bài nghiên cứu.
Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, cơ sở lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu, một số các nghiên cứu liên quan trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Thương mại điện tử (E-Commerce) và thương mại di động (M-Commerce).
Sự phát triển nhanh chóng của Internet và các thiết bị công nghệ đã cho chúng ta thấy được sự đổi mới và cải tiến liên tục của các dịch vụ Thương mại điện tử. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, TMĐT được định nghĩa là "sự sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc giao hàng hóa và dịch vụ thông qua phương tiện điện tử", một giao dịch TMĐT có thể xảy ra giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức công cộng hoặc tư nhân khác. Theo Becker (2007), TMĐT (hay kinh doanh điện tử), đề cập đến việc giao dịch hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử. Mặc dù TMĐT đã trở nên quen thuộc và phổ biến trong hai thập kỷ gần đây, nhưng TMĐT thật sự đã tồn tại hơn 40 năm.
Có hai loại TMĐT cơ bản: doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C). Trong B2B, các công ty tiến hành kinh doanh với các nhà cung cấp, nhà phân phối và các đối tác khác thông qua các mạng điện tử. Trong B2C, các công ty bán sản phẩm và dịch vụ cho NTD. Mặc dù B2C được công chúng biết đến nhiều hơn, B2B mới là hình thức thực sự thống trị TMĐT về mặt doanh thu.
Cũng theo Becker (2007), Thương mại di động là một lĩnh vực phát triển quan trọng trong TMĐT. TMDĐ đề cập đến quá trình sử dụng các thiết bị di động như điện thoại di động hoặc máy tính không dây để thực hiện các giao dịch kinh doanh. TMDĐ đề cập đến các doanh nghiệp sử dụng các thiết bị truyền thông không dây để tiến hành mô hình kinh doanh ở bất kể vị trí nào (Jonker, 2003). Theo thống kê của Cellular Online (2004) trích trong Becker (2007), với 1,5 tỷ người dùng di động trên thế giới TMDĐ đang trở thành một khía cạnh quan trọng của TMĐT.
Với TMDĐ, bản chất của thiết bị di động thay đổi từ công cụ giao tiếp thuần túy (nghe gọi, nhắn tin) sang các công cụ giao dịch thương mại. TMDĐ đã góp phần 10 trở nên ứng dụng quan trọng trong các ngành như quản lý tài chính, dịch vụ du lịch và giải trí. Mặc dù TMDĐ là một kênh mới của TMĐT, phát triển trên nền tảng TMĐT nhưng vẫn có những điểm khác biệt cơ bản so với TMĐT. Zhang và Yuan (2002) phân biệt TMDĐ với TMĐT dựa trên ba khía cạnh cơ bản, đó là công nghệ, bản chất của dịch vụ và mô hình kinh doanh.
Điều này bao gồm các loại thiết bị, giao diện, kết nối, băng thông, vị trí và thuận tiện. Min và cộng sự (2008) phân biệt TMĐT và TMDĐ từ góc độ cơ sở hạ tầng mạng, phát triển ứng dụng, thiết bị của người dùng cuối và giá trị cảm nhận. Ozok và Wei (2010) phân biệt giữa TMDĐ và TMĐT dựa trên bốn yếu tố so sánh, là các yếu tố liên quan đến con người, tính năng giao diện, và các yếu tố liên quan đến sản phẩm và dịch vụ. So sánh cho thấy rằng bốn yếu tố có sự khác biệt đáng kể giữa TMDĐ và TMĐT.
Một vài nghiên cứu khác (Ghinea và Angelides, 2004; Lu và Su, 2009; Kim và cộng sự, 2009) so sánh sự khác biệt của TMĐT và TMDĐ bằng cách đề cập đến thiết bị và giao diện với người dùng, đưa ra những hạn chế của TMDĐ (ví dụ: kích thước màn hình bị hạn chế, dung lượng pin hạn chế, băng thông bị hạn chế và kết nối không ổn định). Tuy nhiên, TMDĐ vẫn có các tính năng độc đáo như tính phổ biến, tính tiện lợi, tính cá nhân hóa (Liao và cộng sự 2005; Park, 2006; Kim và cộng sự, 2009). Cao và cộng sự (2015) đã tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây trên thế giới và kết luận rằng: khác biệt giữa TMDĐ và TMĐT có thể được khái quát thành hai điểm chính, một là sự khác biệt về công nghệ và hai là sự khác biệt về giá trị cảm nhận của người sử dụng. Thứ nhất, Sự khác biệt về công nghệ đề cập đến sự khác biệt về các thiết bị của người dùng cuối và mạng truyền thông.
Trong trường hợp TMĐT, thiết bị của người dùng cuối là máy tính cá nhân có màn hình lớn, âm thanh và video phong phú, bàn phím tiêu chuẩn và kết nối mạng được cung cấp với băng thông rộng và tốc độ truyền cao thông qua kết nối cáp (cáp đồng, cáp quang). Trong trường hợp TMDĐ, 11 giao diện người dùng là màn hình nhỏ, bàn phím nhập văn bản không đầy đủ và nguồn điện hạn chế, mạng truyền thông có băng thông hạn chế và tốc độ truyền thấp hơn. Thứ hai, Cao và cộng sự (2015) đề cập đến sự khác biệt về giá trị cảm nhận của người dùng. Giá trị cảm nhận chung về TMDĐ và TMĐT dựa trên việc xem xét các nhận thức về lợi ích (tính thuận tiện, tính cá nhân hóa) và nhận thức rủi ro khi sử dụng.
NTD có nhận thức sự thuận tiện và nhận thức cá nhân hóa cao hơn trong việc tiến hành mua hàng trên thiết bị di động so với thiết bị cố định có nhiều khả năng chuyển việc sử dụng từ kênh trực tuyến sang kênh di động.1 trình bày tổng hợp sự khác biệt giữa Thương mại điện tử và Thương mại di động từ các nghiên cứu trước đây.1: Sự khác biệt cơ bản giữa Thương mại điện tử và Thương mại di động Thương mại Thương mại Tác giả Đặc điểm di động điện tử - Màn hình nhỏ. - Màn hình lớn. - Đường truyền chậm và - Đường truyền nhanh, kém ổn định hơn. Zhang and Yuan Công nghệ - Bộ nhớ bị giới hạn.
- Bộ nhớ lớn. (2002) - Không giới hạn vị trí - Giới hạn vị trí địa lý. Kết nối - Băng thông hạn chế, - Băng thông rộng, tốc mạng tốc độ truyền thấp. Min và cộng sự Khả năng - Sử dụng trong nhiều - Sử dụng tại 1 môi (2008) ứng dụng môi trường.
trường, tại chỗ cố định. Thiết bị - Màn hình nhỏ, nguồn - Màn hình lớn, cung người dùng điện hạn chế. cấp đủ năng lượng. Ozok và Wei Địa điểm - Mua sắm từ mọi địa - Địa điểm cố định 12 (2010) điểm mong muốn và bất cứ lúc nào.
- Mua sắm màn hình - Mua sắm với màn Giao diện nhỏ, bàn phím giới hạn. hình thuận tiện, bàn phím lớn, chuột. Ghinea and - Năng lượng pin, băng - Pin thuận tiện, băng Angelides (2004), Thiết bị, thông và kết nối hạn chế thông và kết nối ổn Lu and Su (2009) Giao diện định and Kim et al. nguời dùng (2009b) Liao et al.
- Thuận tiện, có mặt - Không nổi trội (2005), Tính năng khắp nơi, Park (2006) and nổi trội Kim et al. Hành vi mua hàng và hành vi mua hàng ngẫu hứng (Impulse Buying). Churchill và Peter (1998) trích trong Kim (2003) đã đề xuất quy trình ra quyết định mua hàng của NTD bao gồm năm bước: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá sự lựa chọn, quyết định mua hàng và đánh giá sau khi mua. Kotler & Keller (2012) cũng đã mô tả chi tiết mô hình này theo năm bước tương tự.1 trình bày quy trình ra quyết định mua hàng của NTD theo Churchill và Peter.
Quá trình ra quyết định mua bắt đầu với sự nhận biết nhu cầu, sự nhận biết này có thể đến từ một cảm giác bên trong hoặc nó có thể đến từ các kích thích bên ngoài tạo ra động lực để mua hàng. Sau đó, họ bắt đầu tìm kiếm thông tin. Dựa trên thông tin, NTD đánh giá các cách để đáp ứng nhu cầu, đưa ra so sánh đánh giá. Sau khi đánh giá các lựa chọn, NTD có thể mua hàng.
Cuối cùng, NTD đánh giá kết quả của việc mua sau khi mua sản 13 phẩm. Bước này liên quan đến sự hài lòng của việc mua hàng; một NTD có kinh nghiệm tích cực có thể tiếp tục quay lại cửa hàng nơi họ đã từng mua. Quá trình này được lặp đi lặp lại khi NTD cảm thấy nhu cầu cần thiết sử dụng sản phẩm dịch vụ.1: Quy trình ra quyết định mua hàng của NTD (Nguồn: Churchill và Peter , 1998 trích trong Kim, 2003) Quá trình ra quyết định mua hàng này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố marketing, yếu tố tình huống và xã hội (Churchill & Peter, 1998 trích trong Kim, 2003). Ảnh hưởng xã hội phản ánh các yếu tố địa lý và xã hội học.
Đó có thể là văn hóa, tầng lớp xã hội và gia đình ảnh hưởng đến hành vi của người khác bằng cách cung cấp thông điệp hoặc phản hồi trực tiếp và gián tiếp. NTD cũng bị ảnh hưởng bởi các nhóm tham khảo, như sự ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành động của NTD. Ảnh hưởng marketing đến quá trình quyết định mua hàng của NTD bao gồm ảnh hưởng của sản phẩm, giá cả, phân phối và khuyến mãi, điều này ảnh hưởng đến quá trình mua hàng 14 của NTD ở các giai đoạn khác nhau. Người tiêu dùng, nói chung, bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm của tình huống, hoàn cảnh xung quanh hành vi mua sắm của họ.
Các ảnh hưởng tình huống chính bao gồm môi trường vật lý, môi trường xã hội xung quanh, thời gian, tiền bạc và tâm trạng nhất thời (Belk, 1975; Park và cộng sự, 1989). Môi trường xung quanh ảnh hưởng đến hành vi mua sắm là các đặc điểm có thể quan sát được bao gồm vị trí của cửa hàng, cách trưng bày hàng hóa, thiết kế nội/ ngoại thất của cửa hàng. Môi trường xã hội là những người xung quanh, đặc điểm và vai trò của họ và cách họ tương tác. Tâm trạng và điều kiện như thời gian, tiền bạc của NTD tại thời điểm mua hàng cũng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của họ (Churchill và Peter, 1998).