Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh (mã số 9.01) của nghiên cứu sinh Bùi Thị Phương Hồng với đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" được hoàn thành năm 2022 tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Xuân Trung và Nguyễn Khánh Doanh.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định đổi mới là một quá trình dài hạn trải dài từ việc hình thành ý tưởng, thực thi đến thương mại hóa ý tưởng, đóng vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và vị thế quốc gia (OECD, 2008). Trong bối cảnh các nguồn lực tăng trưởng truyền thống như tài nguyên thiên nhiên, lao động và vốn ngày càng khan hiếm và có nguy cơ cạn kiệt, xu hướng phát triển kinh tế hiện đại chuyển dịch trọng tâm sang đổi mới (Porter, 2008). Tại Việt Nam, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) ghi nhận chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam liên tục cải thiện: từ vị trí 59/128 (năm 2016) lên 47/127 (năm 2017), 45/126 (năm 2018), 42/129 (năm 2019), 42/131 (năm 2020) và xếp thứ 44/132 (năm 2021).
Tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên – cửa ngõ kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi phía Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ – tính đến năm 2020 có 807 doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo hoạt động, với tổng vốn sản xuất kinh doanh đạt 399.965 tỷ đồng và thu hút 150.922 lao động. Mặc dù giữ vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế địa phương, tốc độ đổi mới của các doanh nghiệp này còn chậm do chưa chú trọng nghiên cứu và phát triển (R&D), trình độ lao động còn hạn chế, hệ thống đổi mới sáng tạo cấp tỉnh chưa vận hành hiệu quả và thiếu cơ chế chính sách kích thích đổi mới. Đồng thời, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới còn thiếu sự thống nhất, tạo ra khoảng trống cần được kiểm chứng trên địa bàn thực tế.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động này đến năm 2030.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về đổi mới cùng các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Nhận diện và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thông qua mô hình kinh tế lượng.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn đến năm 2030.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nhóm doanh nghiệp này chiếm 87,8% tổng số doanh nghiệp công nghiệp theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2020. Luận án loại trừ các nhóm doanh nghiệp khai khoáng; sản xuất và phân phối điện, khí đốt; cung cấp nước và xử lý rác thải do tính đặc thù và chiếm tỷ trọng nhỏ.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp phản ánh hoạt động của doanh nghiệp giai đoạn 2016-2020; dữ liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trong giai đoạn 2020-2021; các định hướng giải pháp được đề xuất với tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng theo 4 nội dung đổi mới (sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing) và phân tích ảnh hưởng của 6 nhóm yếu tố (cạnh tranh và thông tin thị trường; thể chế, chính sách và pháp luật; cơ sở hạ tầng; liên kết và hợp tác; nhà quản trị và chất lượng nguồn nhân lực; năng lực tài chính).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh bản chất của đổi mới và các yếu tố tác động:
Về mặt thuật ngữ và khái niệm, tác giả lựa chọn sử dụng thuật ngữ "đổi mới" tương ứng với "Innovation" nhằm giữ nguyên vẹn nội hàm thay vì thuật ngữ "đổi mới sáng tạo". Động lực đổi mới được Clausen và cộng sự (2013) giải thích qua ba nguyên nhân: áp lực sinh tồn, cơ hội công nghệ và lợi ích kinh tế (gia tăng lợi nhuận, thị phần). Để đo lường đầu vào đổi mới, các công trình của Bygrave (1992), Flor và Oltra (2004), Buddelmeyer và cộng sự (2006) sử dụng chỉ tiêu chi phí R&D; tuy nhiên Becheikh và cộng sự (2006) lưu ý chỉ tiêu này đo lường phát minh nhiều hơn là đổi mới thương mại hóa. Greenhalg và Rogers (2010), Palangkaraya và cộng sự (2016) phân tích phương pháp đo lường qua phiếu khảo sát quy mô lớn như Khảo sát Đổi mới Cộng đồng (CIS) tại châu Âu từ năm 1991, đồng thời chỉ ra giới hạn của phương pháp này trong việc phản ánh cường độ nỗ lực qua thời gian. Arrow (1962) phân tích rủi ro của đổi mới khi tạo ra hàng hóa công cộng dẫn đến hiện tượng sao chép, làm giảm động cơ nghiên cứu nếu thiếu bảo hộ bằng sáng chế. Nguyễn Đình Bình và cộng sự (2015), Hutter và cộng sự (2013) phân biệt mô hình đổi mới đóng truyền thống dựa vào nguồn lực nội bộ với mô hình đổi mới mở liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu.
Về trường phái tiếp cận, y văn chia thành hai luồng chính:
- Tiếp cận theo quy trình (Process): Coi đổi mới là tiến trình chuyển hóa ý tưởng thành sản phẩm hoặc cách tiếp cận mới (Nelson, 1993; Phùng Xuân Nhạ, 2013; NRC, 2014; West và Anderson, 1996). Almeida và cộng sự (1997), Brown và cộng sự (1995), Triguero và Córcoles (2013) nhấn mạnh tính chất thử nghiệm và tính liên kết quá khứ - hiện tại. Zaltman và cộng sự (1973) chia quy trình thành 4 bước (sáng chế, đổi mới, bắt chước, lan tỏa); Hansen và cộng sự (1995) cụ thể hóa thành 5 bước (tìm hiểu nhu cầu, xác định cơ hội, tìm kiếm ý tưởng, chuyển đổi ý tưởng, khuếch tán ý tưởng).
- Tiếp cận theo kết quả (Outcome): Đánh giá đổi mới qua sản phẩm đầu ra, số lượng bằng sáng chế, bản quyền hoặc mức tăng doanh thu (Darroch, 2005; Robertson, 1967). Edison và cộng sự (2013) phân loại thành đổi mới từng bước, đột phá thị trường, đột phá công nghệ và đổi mới căn bản. Cẩm nang Oslo (OECD, 2005) phân cấp tính mới thành: mới với doanh nghiệp, mới với thị trường và mới với thế giới.
Về tầm quan trọng của đổi mới: Solow (1991), Baumol (2014), Zeng và Zhou (2021) khẳng định đổi mới đảm bảo tăng trưởng bền vững và giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên. King và cộng sự (1993), Nelson (1993), Artz và cộng sự (2010), Law và cộng sự (2020) cùng mô hình của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO, Bộ KH&CN trích dẫn 2018) chứng minh đổi mới thúc đẩy tăng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động. Mytelka và cộng sự (2000), Peter (1998), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (1997), Bùi Nhật Lệ Uyên (2018) phân tích vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp. Quadrio Curzio (1994), Flor (2004), Hult (2004), Quevedo và cộng sự (2017) nhấn mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và năng lực hấp thụ công nghệ.
Về nội dung phân loại: Schumpeter (1934) đề xuất 5 dạng đổi mới (sản phẩm, phương pháp sản xuất, thị trường, nguồn cung, tổ chức). OECD (2005) chuẩn hóa thành 4 nội dung: sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing. Tại Việt Nam, khảo sát của Mai Lê Thúy Vân và cộng sự (2018) trên 996 doanh nghiệp ghi nhận 31% thực hiện đổi mới sản phẩm, 46% thực hiện đổi mới quy trình. Hồ Ngọc Luật (2019) khảo sát 7.641 doanh nghiệp chế biến chế tạo, ghi nhận 61,6% có hoạt động đổi mới giai đoạn 2014-2016 (đổi mới sản phẩm chiếm 32,1%, quy trình 39,9%, tổ chức 37,7%, marketing 28,6%).
Tác giả tổng hợp các công trình nghiên cứu về 6 nhóm yếu tố tác động trong Bảng 1.2 của luận án:
| STT |
Nhóm yếu tố ảnh hưởng |
Tác giả, công trình trích dẫn tiêu biểu trong văn bản |
| 1 |
Cạnh tranh và thông tin thị trường |
Porter (2008); Arranz và cs (2019); Bùi Nhật Lệ Uyên (2019); Trần Thị Hồng Việt (2016); Acs và cs (1988); Damanpour và cs (2006); Sala và cs (2017); Manget và cs (2009); Aghion và cs (1999, 2005); Lee và cs (2005); Hussen và Çokgezen (2019); Geroski (1990); Cohen (1990); Lý thuyết Schumpeter; Lý thuyết Rogers; Lý thuyết Edison, Ali và Torkar (2013) |
| 2 |
Thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật |
Arranz và cs (2019); Romijn và Albaladejo (2002); Nguyễn Quốc Duy (2015); Yang và cs (2019); Hussen và Çokgezen (2019); Bùi Nhật Lệ Uyên (2018); Sivak và cs (2011); Parchomovsky và Stein (2008); Sala và cs (2017); Nijsen và cs (2009); Anokhin và Schulze (2009); Romijn (2002); Buddelmeyer và cs (2006); Baumol (1990); Rosenbusch và cs (2011); Vũ Anh Dũng và cs (2018); Aghion và cs (2009); Lý thuyết Rogers; Lý thuyết Teece; Lý thuyết Edison, Ali và Torkar (2013) |
| 3 |
Cơ sở hạ tầng |
Sivak, Caplanova và Hudson (2012); Djoumessi và cs (2019); Gallego và cs (2011); Guinet (1999); OECD (2008); Ayyagari và cs (2005); Nguyễn Quốc Duy (2015); Canepa và cs (2008); Hussen và Çokgezen (2019); Irina và cs (2019); Damanpour (1991); Phuangrod và cs (2017) |
| 4 |
Liên kết và hợp tác |
Romijn và Albaladejo (2002); Nguyễn Quốc Duy (2015); Trần Thị Hồng Việt (2016); Wolfe và cs (2004); Phuangrod và cs (2017); Ayyagari và cs (2005); Nguyễn Đình Bình và cs (2015); Arranz và cs (2019); Hagedoorn (2006); Lý thuyết Edison, Ali và Torkar (2013) |
| 5 |
Nhà quản trị doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực |
Đỗ Văn Hải (2015); Darroch (2005); Kirca và cs (2005); Romijn và Albaladejo (2002); Wan và cs (2005); Becheikh (2006); Sala và cs (2017); Nguyễn Thanh Cường (2014); Ayyagari và cs (2005); Ngo và O’Cass (2009); Arranz và cs (2019); Drucker (1998); Phuangrod và cs (2017); Hagedoorn (2006); Hult (2004); Aurjiraponpan và cs (2011); Vuttiwong (2009); Lý thuyết đổi mới nội sinh; Lý thuyết Rogers; Lý thuyết Edison, Ali và Torkar (2013) |
| 6 |
Năng lực tài chính doanh nghiệp |
Bygrave (1992); Kaufmann và Todtling (2002); Schumpeter (1934); King và Levine (1993); Morales (2003); Xie và cs (2013); Romijn và Albaladejo (2002); Arranz và cs (2019); Van (2009); Hussen và Çokgezen (2019); Hồ Ngọc Luật và Phạm Thế Dũng (2018); Quevedo và cs (2017); Bartlett và Ghoshal (1989); Ghoshal và Moran (1996); Bùi Nhật Lệ Uyên (2018); Canepa và Stoneman (2008); Lý thuyết đổi mới nội sinh; Lý thuyết Teece; Lý thuyết Edison, Ali và Torkar (2013) |
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra ba điểm còn khuyết thiếu trong y văn:
- Các nghiên cứu quốc tế về đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp khá phong phú, nhưng tại Việt Nam còn rất ít công trình nghiên cứu sâu về khu vực này; chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng mức độ thực hiện đồng thời cả 4 khía cạnh: sản phẩm, quy trình, tổ chức và marketing.
- Các nghiên cứu trong nước chủ yếu dừng ở việc giới thiệu khái niệm, phân loại theo khuyến nghị của OECD mà chưa xây dựng được cái nhìn tổng thể về cơ sở lý luận, cũng như đo lường toàn diện tác động của đổi mới.
- Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng thường chỉ dừng lại ở các bài báo đơn lẻ hoặc xem xét tác động đến một khía cạnh riêng biệt (hoặc sản phẩm, hoặc quy trình), chưa có mô hình tích hợp kiểm định ảnh hưởng của 6 nhóm yếu tố tới cả 4 nội dung đổi mới.
Vị trí của luận án: Luận án định vị là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại tỉnh Thái Nguyên áp dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định đồng thời tác động của 6 nhóm yếu tố đến 4 nội dung đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên hệ thống 6 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết đo lường đổi mới của Edison, Ali và Torkar (2013): Hệ thống hóa 244 yếu tố tác động thành 23 nhóm nhân tố, làm cơ sở để chọn lọc 6 nhóm biến độc lập.
- Lý thuyết đổi mới của Schumpeter (1934): Khẳng định đổi mới là sự phá hủy mang tính sáng tạo và nguồn lực tài chính là điều kiện tiên quyết.
- Lý thuyết đổi mới nội sinh (Endogenous Innovation Theory): Nhấn mạnh vai trò của tích lũy tri thức, nguồn nhân lực và nỗ lực đầu tư tài chính nội bộ.
- Lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers (Rogers’ Innovation Diffusion Theory): Giải thích cơ chế lan tỏa công nghệ thông qua các kênh truyền thông, mạng lưới xã hội và cấu trúc thể chế.
- Lý thuyết đổi mới của Roberts và Berry: Xem xét các phương thức thâm nhập công nghệ và thị trường mới (tự phát triển, liên doanh, mua bán sáp nhập).
- Lý thuyết đổi mới của Teece: Phân tích cơ chế nắm giữ lợi nhuận từ đổi mới thông qua việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát các tài sản bổ sung.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp tư liệu, phỏng vấn sâu và phỏng vấn chuyên gia nhằm nhận diện đặc thù hoạt động đổi mới, điều chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh doanh nghiệp địa phương và xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý). Quy trình xử lý và phân tích số liệu bao gồm:
- Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha để loại biến rác.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) để rút trích các nhóm nhân tố độc lập và phụ thuộc.
- Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) nhằm kiểm tra tính hội tụ, tính phân biệt và độ phù hợp của mô hình đo lường.
- Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ tác động giữa 6 biến độc lập tới hoạt động đổi mới, kết hợp kiểm soát biến quy mô doanh nghiệp.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương và Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp bằng phiếu điều tra tại các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2020-2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về khái niệm, vai trò, hình thức đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng. Nội dung chương phân tích rõ các động lực đổi mới theo Clausen và cộng sự (2013), đo lường đổi mới thông qua R&D (Bygrave, 1992; Flor và Oltra, 2004) và phiếu khảo sát CIS (Greenhalg và Rogers, 2010). Tác giả so sánh hai trường phái: đổi mới là một quy trình (Nelson, 1993; Hansen và cộng sự, 1995) và đổi mới là kết quả đầu ra (Robertson, 1967; OECD, 2005). Chương 1 phân tích vai trò của đổi mới đối với tăng trưởng bền vững (Solow, 1991; Baumol, 2014), tăng năng suất lao động và TFP qua mô hình APO (Bộ KH&CN, 2018), nâng cao năng lực cạnh tranh (WEF, 1997; Porter, 2008) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trên cơ sở tổng hợp 244 yếu tố từ nghiên cứu của Edison, Ali và Torkar (2013), tác giả thiết lập Bảng 1.2 tổng hợp 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng (thị trường, thể chế, hạ tầng, liên kết, nhân sự, tài chính) và nêu bật 3 khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên.
Chương 2: Cơ sở lý luận về đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp
Chương 2 trình bày khung lý thuyết toàn diện về đổi mới trong lĩnh vực công nghiệp. Tác giả định nghĩa doanh nghiệp công nghiệp, làm rõ đặc trưng hoạt động đổi mới trong sản xuất chế biến chế tạo và cụ thể hóa 4 nội dung theo Cẩm nang Oslo (OECD, 2005):
- Đổi mới sản phẩm: Tạo ra sản phẩm mới hoàn toàn hoặc cải tiến đáng kể đặc tính kỹ thuật, thành phần vật liệu.
- Đổi mới quy trình: Thay đổi phương pháp sản xuất, dây chuyền thiết bị, phần mềm và kỹ thuật phân phối.
- Đổi mới tổ chức: Đổi mới phương thức quản lý tại nơi làm việc, sắp xếp cơ cấu tổ chức và quan hệ hợp tác đối ngoại.
- Đổi mới marketing: Đổi mới thiết kế bao bì, định giá, kênh phân phối và xúc tiến thương mại.
Chương này phân tích sâu 6 học thuyết nền tảng (Edison và cs, 2013; Schumpeter; Đổi mới nội sinh; Rogers; Roberts và Berry; Teece); đưa ra hai nhóm chỉ tiêu đo lường đổi mới (đo lường đầu vào qua vốn, nhân lực, R&D; đo lường đầu ra qua bằng sáng chế, tỷ trọng doanh thu sản phẩm mới); và luận giải cơ chế tác động của 6 nhóm yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài đến hoạt động đổi mới.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả phát triển mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc (Hoạt động đổi mới với 4 khía cạnh: sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing) và 6 nhóm biến độc lập: (1) Cạnh tranh và thông tin thị trường, (2) Thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật, (3) Cơ sở hạ tầng, (4) Liên kết và hợp tác, (5) Nhà quản trị và chất lượng nguồn nhân lực, (6) Năng lực tài chính. Thang đo Likert 5 mức độ được mã hóa chi tiết (Bảng 3.2, 3.3, 3.4). Quy trình thu thập số liệu thứ cấp (2016-2020) và sơ cấp (2020-2021) được chuẩn hóa. Chương 3 mô tả cụ thể các kỹ thuật xử lý số liệu: thống kê mô tả mẫu (Bảng 3.1), đánh giá Cronbach's Alpha, phân tích EFA, phân tích CFA và ước lượng phương trình cấu trúc tuyến tính SEM chưa chuẩn hóa cũng như kiểm soát biến quy mô doanh nghiệp.
Chương 4: Thực trạng đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 4 công bố kết quả điều tra và phân tích định lượng:
- Bối cảnh chung: Năm 2020, tỉnh Thái Nguyên có 807 doanh nghiệp chế biến, chế tạo với tổng vốn 399.965 tỷ đồng và 150.922 lao động (Bảng 4.1, 4.2, 4.3). Tỷ trọng chi ngân sách cho R&D thấp; khả năng huy động vốn cho đổi mới còn khó khăn (Hình 4.2, 4.3); tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế (Hình 4.4).
- Kết quả kiểm định thang đo biến phụ thuộc: EFA và CFA xác nhận cấu trúc thang đo hoạt động đổi mới gồm 4 thành phần (sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing) đạt độ tin cậy, tính hội tụ và tính phân biệt (Bảng 4.4, 4.5, 4.6). Thực trạng từng nội dung được thống kê cụ thể tại các Bảng 4.7 (sản phẩm), Bảng 4.8 (quy trình sản xuất), Bảng 4.9 (tổ chức), Bảng 4.10 (marketing).
- Kết quả kiểm định thang đo biến độc lập: EFA và CFA cho 6 nhóm nhân tố độc lập (Bảng 4.11, 4.12, 4.13) khẳng định tính giá trị của mô hình đo lường. Điểm thực trạng của từng yếu tố được đánh giá tại các Bảng 4.14 đến 4.19 (thị trường, thể chế pháp luật, hạ tầng, liên kết, nhà quản trị và nhân lực, tài chính).
- Phân tích hồi quy SEM: Bảng 4.20 và Bảng 4.21 trình bày hệ số hồi quy SEM chưa chuẩn hóa (mô hình thông thường và mô hình kiểm soát bởi quy mô doanh nghiệp). Bảng 4.22 tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, xác nhận mức độ tác động cụ thể có ý nghĩa thống kê của các biến độc lập tới hoạt động đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Chương 5: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 5 phân tích bối cảnh đổi mới trong nước và quốc tế, định hướng và mục tiêu phát triển khoa học công nghệ của tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất 5 nhóm giải pháp thực hiện đến năm 2030:
- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ đổi mới: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai minh bạch các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho dự án đổi mới công nghệ.
- Xây dựng khu công nghệ cao: Tạo lập hạ tầng nghiên cứu tập trung, thu hút các trung tâm R&D và thúc đẩy quản lý tiềm năng đổi mới (Hình 5.1).
- Nâng cao năng lực đổi mới của nhà quản trị: Bồi dưỡng tư duy đổi mới, định hướng học tập và khả năng chấp nhận rủi ro kinh doanh cho lãnh đạo doanh nghiệp.
- Nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ năng kỹ thuật, gắn kết chương trình đào tạo của các trường đại học trên địa bàn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp công nghiệp.
- Tăng cường liên kết và hợp tác trong đổi mới: Xây dựng sơ đồ mạng liên kết doanh nghiệp (Hình 5.2), gắn kết chặt chẽ ba nhà: Nhà nước - Nhà khoa học (trường đại học, viện nghiên cứu) - Doanh nghiệp nhằm vận hành hệ sinh thái đổi mới mở.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo công bố của luận án, công trình đạt được các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa logic cơ sở lý luận về đổi mới, nội dung, hình thức và tầm quan trọng của đổi mới đối với phát triển kinh tế quốc gia và doanh nghiệp.
- Làm rõ đặc trưng của đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp; thiết lập hệ thống tiêu chí đo lường đổi mới qua chỉ tiêu đầu vào và chỉ tiêu đầu ra.
- Ứng dụng kỹ thuật thống kê thế hệ thứ hai (mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính SEM) để mô hình hóa và kiểm định đồng thời tác động của 6 nhóm yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài đến 4 nội dung đổi mới, khắc phục nhược điểm của các mô hình hồi quy truyền thống. Đây là công trình hàn lâm đầu tiên kiểm định mô hình toàn diện này trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới tại 807 doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo tỉnh Thái Nguyên theo 4 nội dung (sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing), đồng thời phân tích cơ cấu chi phí, nguồn vốn huy động và mức độ thụ hưởng chính sách hỗ trợ đổi mới.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của 6 yếu tố (cạnh tranh và thị trường, thể chế chính sách, cơ sở hạ tầng, liên kết hợp tác, nhà quản trị và nguồn nhân lực, năng lực tài chính) tới từng nội dung đổi mới.
- Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ và có cơ sở thực nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, cơ chế chính sách, liên kết chuỗi và năng lực nội tại của doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phạm vi và thiết kế nghiên cứu được tác giả xác định trong văn bản:
- Hạn chế về đối tượng: Luận án chỉ tập trung vào nhóm doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 87,8% số lượng doanh nghiệp công nghiệp năm 2020), loại trừ các phân ngành công nghiệp khai khoáng; sản xuất và phân phối điện, nước; xử lý rác thải. Do đó, các phát hiện chưa bao quát toàn bộ các loại hình sản xuất công nghiệp.
- Hạn chế về phạm vi không gian và thời gian: Mẫu khảo sát sơ cấp chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và dữ liệu điều tra thu thập trong giai đoạn 2020-2021, thời điểm chịu tác động nhất định từ các biến động kinh tế vĩ mô.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát sang các phân ngành công nghiệp đặc thù còn lại; thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa Thái Nguyên với các tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc; áp dụng nghiên cứu dữ liệu bảng (panel data) để theo dõi sự biến đổi của hoạt động đổi mới theo chuỗi thời gian dài hạn.
Giá trị tham khảo
Nội dung luận án có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế học: Cung cấp khung lý thuyết tổng hợp 6 yếu tố từ 244 biến của Edison và cộng sự (2013), hệ thống bảng hỏi, thang đo Likert 5 mức độ và quy trình thực nghiệm kết hợp Cronbach's Alpha, EFA, CFA và mô hình SEM.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương): Luận án cung cấp số liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiếp cận chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp, thực trạng cơ sở hạ tầng và luận cứ để triển khai đề án thành lập khu công nghệ cao cũng như hoàn thiện chính sách hỗ trợ đổi mới đến năm 2030.
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp công nghiệp: Cung cấp góc nhìn về các nhân tố tác động nội tại (quản lý tài chính, năng lực điều hành của lãnh đạo, phát triển nguồn nhân lực) và giải pháp thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị nhằm giảm chi phí R&D.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao tác giả sử dụng thuật ngữ "đổi mới" thay vì "đổi mới sáng tạo"?
Tác giả giải thích trong văn bản rằng "đổi mới" dịch từ thuật ngữ tiếng Anh "Innovation". Mặc dù nhiều tài liệu tại Việt Nam dịch là "đổi mới sáng tạo", tác giả chọn dịch là "đổi mới" nhằm giữ nguyên vẹn nội hàm khoa học của thuật ngữ "Innovation".
-
Vì sao luận án loại trừ các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng, điện, nước và rác thải?
Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2020, doanh nghiệp chế biến, chế tạo là lực lượng chủ lực cần đổi mới và chiếm đa số (87,8%). Các nhóm công nghiệp còn lại (khai khoáng, phân phối điện khí, xử lý rác thải) chiếm tỷ trọng nhỏ và mang tính chất đặc thù kỹ thuật riêng, không đòi hỏi nhiều hoạt động đổi mới sáng tạo như khối chế biến, chế tạo.
-
Mô hình nghiên cứu của luận án xem xét bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới?
Luận án xem xét 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng, gồm: (1) Cạnh tranh và thông tin thị trường; (2) Thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật; (3) Cơ sở hạ tầng; (4) Liên kết và hợp tác; (5) Nhà quản trị và chất lượng nguồn nhân lực; (6) Năng lực tài chính doanh nghiệp.
-
Quy mô các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo tỉnh Thái Nguyên năm 2020 được ghi nhận như thế nào trong văn bản?
Năm 2020, toàn tỉnh có 807 doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đang hoạt động, với tổng số vốn sản xuất kinh doanh đạt 399.965 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho 150.922 lao động.
-
Phương pháp phân tích kinh tế lượng chủ yếu được sử dụng để kiểm định mô hình là gì?
Luận án sử dụng kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling) kết hợp với phân tích Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định các mối quan hệ tác động đa chiều giữa các biến.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Phương Hồng đã hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp thông qua việc kế thừa và tổng hợp các học thuyết kinh tế tiêu biểu. Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên tập dữ liệu thứ cấp (giai đoạn 2016-2020) và sơ cấp (giai đoạn 2020-2021) của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Bằng việc ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính SEM, luận án xác định và đo lường mức độ tác động của 6 nhóm yếu tố môi trường tới 4 nội dung đổi mới (sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing). Các kết quả phân tích đóng vai trò làm căn cứ thực tiễn để đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ thúc đẩy hoạt động đổi mới tại địa phương trong giai đoạn đến năm 2030.