phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì luận án được kết cấu thành 5 chương: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Lý luận chung về đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 5: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về đổi mới (Innovation) 1. Các nghiên cứu về quan niệm đổi mới (Innovation) “Đổi mới” trong tiếng Anh là “Innovation”. Ở nhiều quốc gia người ta không dịch mà để nguyên thuật ngữ “Innovation” để hiểu rõ nội hàm của thuật ngữ.
Tại Việt Nam thì có rất nhiều tài liệu và các nhà quản lý Việt Nam dịch là “đổi mới sáng tạo”. Trong luận án này, tác giả lựa chọn dịch là “đổi mới”, nhằm giữ nguyên nội hàm của thuật ngữ “Innovation”. Đổi mới là hoạt động mà doanh nghiệp sử dụng các kiến thức, tri thức mới về công nghệ hay thị trường, về tổ chức quản lý. để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý nhằm đáp ứng được những nhu cầu và đòi hỏi luôn thay đổi của thị trường, thông qua đó giúp doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Clausen và cộng sự (2013) khẳng định động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động đổi mới đó là: Do sức ép cần phải tồn tại của doanh nghiệp; Do những cơ hội, lợi ích mà công nghệ mới đem lại (Công nghệ ngoại sinh so với công nghệ nội sinh; công nghệ khai thác so với công nghệ thăm dò); và do cơ hội, lợi ích kinh tế của các kết quả đổi mới đem lại như: Tăng lợi nhuận, tăng thị phần hoặc tăng sức mạnh thị trường. Nguồn gốc của kết quả đổi mới là do đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và mục tiêu của hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đổi mới là nhằm kiếm được lợi nhuận cao từ đầu tư R&D hay kiếm được tiền từ cho thuê các ý tưởng hoặc sáng chế mới. Chính vì thế, để đo lường đầu vào của hoạt động đổi mới, các nhà khoa học thường sử dụng chỉ tiêu R&D (Flor và Oltra, 2004; Bygrave, 1992; Buddelmeyer và cộng sự, 2006). Chỉ tiêu R & D sẽ thể hiện nỗ lực đổi mới của doanh nghiệp, tuy nhiên chỉ tiêu này lại không thể hiện được kết quả của đổi mới.
Bởi vì nhiều khi hoạt động nghiên cứu và phát triển không dẫn đến việc tạo ra các sản phẩm hoặc quy trình mới, nguyên nhân là do các thất bại của hoạt động R&D. Do vậy, nhiều nghiên cứu coi chỉ tiêu R&D như một biến số độc lập trong mô hình phương trình 8 đổi mới. Điều này đã được khẳng định trong nghiên cứu của Becheikh và cộng sự (2006). Tác giả cho rằng chỉ tiêu R&D thường được dùng để "đo lường các phát minh hơn là các đổi mới".
Ngoài ra, đo lường đổi mới có thể thông qua phiếu khảo sát. Đây là phương pháp thường được dùng hiện nay để tìm hiểu về kết quả đổi mới trong các doanh nghiệp. Phương pháp này đang được sử dụng phổ biến ở các nước Châu Âu (Greenhalg và Rgoers, 2010), tại đây một cuộc khảo sát về đổi mới có quy mô lớn là Khảo sát đổi mới cộng đồng (CIS), được bắt đầu tiến hành vào năm 1991. Đo lường bằng phiếu khảo sát thường sử dụng để thu thập dữ liệu với quy mô lớn và sử dụng nhiều biến số khác nhau nhằm đánh giá hoạt động đổi mới của doanh nghiệp.
Các biến độc lập và biến phụ thuộc được lựa chọn để phân tích hồi quy. Đối với mỗi biến, cần đưa ra mô tả chi tiết, thang đo và sự tác động của biến độc lập tới biến phụ thuộc. Greenhalg và Rgoers (2010) lại cho rằng đo lường đổi mới bằng phiếu khảo sát không phải công việc đơn giản và dễ dàng. Nguyên nhân là do khó khăn trong khâu thiết kế nội dung câu hỏi cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, lý luận nền tảng vẫn còn rất nhiều tranh cãi, việc thu thập dữ liệu rất phức tạp do quy mô mẫu lớn, sự phản hồi từ các doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả.
Greenhalg và Rgoers (2010) cho biết, ban đầu CIS chỉ điều tra về quy trình và sản phẩm mới mà các doanh nghiệp đã công bố, tuy nhiên CIS lại không phân biệt liệu các đổi mới này là mới trên thị trường hay chỉ mới với doanh nghiệp. Về sau, CIS đã thêm vào các câu hỏi mới trong các cuộc khảo sát nhằm phân biệt những đổi mới nào là mới đối với doanh nghiệp, mới với ngành, hoặc mới với quốc gia. Tuy nhiên, biện pháp đo lường đổi mới thông qua phiếu khảo sát cũng bị chỉ trích vì phương pháp này chỉ nắm bắt được nỗ lực đổi mới ở biên độ rộng (bao nhiêu doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới), chứ không phải cường độ của những nỗ lực (mức độ hoạt động đổi mới qua các giai đoạn khác nhau như thế nào (Buddelmeyer và cộng sự, 2006 ; Palangkaraya và cộng sự, 2016). Arrow (1962) cho rằng đổi mới là một quá trình từ khi hình thành ý tưởng, cho đến khi thương mại hóa các kết quả đổi mới.
Tuy nhiên khó khăn của đổi mới đó là sự không chắc chắn cho thành công của hoạt động đổi mới. Hay kết quả đổi 9 mới doanh nghiệp nên bán hay cho thuê, hay thương mại hóa? Rủi ro cho doanh nghiệp tiến hành đổi mới khi kết quả đổi mới là “sản phẩm, hàng hóa công cộng”, thì doanh nghiệp cũng sẽ không đạt được lợi nhuận như là kỳ vọng. Arrow (1962) nhấn mạnh rằng kết quả đổi mới mà tạo ra “hàng hóa công cộng” sẽ làm giảm động cơ đổi mới trong doanh nghiệp. Bởi vì, doanh nghiệp phải trả chi phí cho hoạt động đổi mới nhưng không được hưởng lợi về mặt kinh tế đối với kết quả kinh tế (nguyên nhân có thể là do sự bắt chước).
Arrow (1962) cho rằng để giải quyết vấn đề này thì bằng sáng chế là một giải pháp khả thi. Bởi vì bằng sáng chế sẽ loại trừ những người bắt chước sử dụng kiến thức mới mà doanh nghiệp đã tạo ra, từ đó doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc độc quyền các kết quả đổi mới. Theo tác giả Nguyễn Đình Bình (2015), đổi mới được chia làm 02 loại là đổi mới đóng và đổi mới mở. Trong đó, đổi mới đóng (đổi mới truyền thống) đây là hình thức đổi mới chỉ dựa vào các nguồn lực bên trong doanh nghiệp.
Với hình thức đổi mới này doanh nghiệp thường phải chi số tiền rất lớn mua máy móc thiết bị tiên tiến phục vụ hoạt động nghiên cứu, chiêu mộ những người ưu tú có năng lực vượt trội để tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhằm đưa ra được các phát minh mới, các công nghệ hiện đại, hoặc sản phẩm mới để dẫn đầu thị trường. Mô hình này đã từng được rất nhiều các doanh nghiệp áp dụng và thành công trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, hiện nay hình thức đổi mới này không còn phù hợp, khi doanh nghiệp tiến hành đổi mới mà quy mô công nghệ vượt xa năng lực công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, tốc độ thay đổi công nghệ thì nhanh chóng, mặt khác do chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lại thường rất lớn. Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự liên kết hợp tác giữa doanh nghiệp với nhiều tổ chức hay doanh nghiệp khác, hình thức đổi mới như vậy gọi là đổi mới mở.
Với hình thức đổi mới này thì doanh nghiệp sẽ chấp nhận việc chia sẻ nguồn lực đổi mới với bên ngoài, cũng như là chia sẻ lợi ích với các đối tác trong nghiên cứu, thường thì các đối tác là các trường đại học, các viện nghiên cứu. Hình thức này không những giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí trong việc duy trì hoạt động nghiên cứu và phát triển, vẫn bảo đảm tính liên tục và năng lực trong hoạt động đổi mới của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi áp dụng hình thức này ngoài việc doanh nghiệp phải chia sẻ 10 lợi ích với các đối tác, nó còn có hạn chế khi mà mối liên kết giữa doanh nghiệp với các đối tác nghiên cứu không được chặt chẽ, dẫn đến tình trạng mất bản quyền sáng chế, doanh nghiệp phải phụ thuộc vào các đối tác, không tự đưa ra được các quyết định trong đổi mới (Hutter và cộng sự, 2013). Đổi mới là một xu hướng nghiên cứu đã có từ lâu trên thế giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đổi mới trong các lĩnh vực khác nhau (Quintane và cộng sự, 2011).
Tuy nhiên có hai trường phái rõ rệt về đổi mới, một trường phái coi đổi mới là một quy trình (process), trường phái còn lại xem đổi mới là một kết quả (outcome). Trường phái thứ nhất, đổi mới là một quy trình. Trong trường phái này, các tác giả chỉ chú trọng đến các quy trình hình thành và phát triển ý tưởng (Almeida và cộng sự, 1997) hay quy trình thử nghiệm, sai và sửa liên tục để đạt được hiệu quả trong đổi mới (Brown và cộng sự, 1995). Triguero và Córcoles (2013) nhấn mạnh đổi mới là một quy trình phức tạp, nó không đơn thuần là kết quả của sự khai thác nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ, tài nguyên hay tận dụng các chính sách của nhà nước, mà nó là sự liên kết đổi mới giữa quá khứ và hiện tại.
Nói cách khác, hoạt động đổi mới trong quá khứ sẽ tác động rất lớn đến sự thành công của hoạt động đổi mới ở hiện tại. Bởi vì thông thường hoạt động đổi mới trong hiện tại của doanh nghiệp sẽ được phát triển từ nền tảng của hoạt động đổi mới trong quá khứ. Hơn thế nữa, hoạt động đổi mới trong quá khứ và hiện tại sẽ định hướng hoạt động đổi mới trong tương lai. Theo Phùng Xuân Nhạ (2013), đổi mới là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu, phát triển, lập kế hoạch, đề ra các biện pháp thực thi và cuối cùng là thương mại hóa.
Trong khi đó, Richard R. Nelson (1993) lại cho rằng "Đổi mới là quá trình chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận mới trong lĩnh vực xã hội".