Luận án tiến sĩ: Yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại doanh nghiệp công nghiệp Thái Nguyên

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu kinh doanh các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh thái, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản trị Kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

227
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp

Đổi mới doanh nghiệp là yếu tố then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững. Tại Thái Nguyên, các doanh nghiệp công nghiệp đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc áp dụng đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới, bao gồm cả yếu tố nội bộ và bên ngoài. Quản lý đổi mớichiến lược đổi mới được xem là những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Ngoài ra, công nghệ trong doanh nghiệp cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy hiệu quả sản xuất và tăng trưởng.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của đổi mới

Đổi mới được định nghĩa là quá trình áp dụng các ý tưởng mới vào sản xuất và kinh doanh. Đối với doanh nghiệp công nghiệp, đổi mới không chỉ giúp cải thiện hiệu quả mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh. Theo nghiên cứu, các doanh nghiệp áp dụng đổi mới sáng tạo thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với các doanh nghiệp truyền thống. Thái Nguyên, với vai trò là trung tâm công nghiệp của khu vực, cần tập trung vào việc thúc đẩy đổi mới để duy trì vị thế cạnh tranh.

1.2. Các hình thức đổi mới trong doanh nghiệp

Đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp bao gồm nhiều hình thức như đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, và đổi mới tổ chức. Mỗi hình thức đều có tác động riêng đến hiệu quả kinh doanh. Ví dụ, đổi mới sản phẩm giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, trong khi đổi mới quy trình giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất. Thái Nguyên cần khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng đa dạng hình thức đổi mới để tối đa hóa lợi ích.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới

Nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp bao gồm cả yếu tố nội bộ và bên ngoài. Yếu tố nội bộ như năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, và quản lý đổi mới đóng vai trò quan trọng. Trong khi đó, yếu tố bên ngoài như thể chế, chính sách, cơ sở hạ tầng, và cạnh tranh trong ngành công nghiệp cũng có tác động đáng kể. Thái Nguyên cần xây dựng các chính sách hỗ trợ để giảm bớt rào cản đối với đổi mới.

2.1. Yếu tố nội bộ

Năng lực tài chính là yếu tố quyết định khả năng đầu tư vào đổi mới sáng tạo. Các doanh nghiệp có nguồn lực tài chính mạnh thường dễ dàng áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình. Chất lượng nguồn nhân lực cũng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong việc nghiên cứu và phát triển (R&D). Quản lý đổi mới hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quá trình thực hiện các ý tưởng mới.

2.2. Yếu tố bên ngoài

Thể chế, chính sách của chính phủ có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quá trình đổi mới. Cơ sở hạ tầng tốt giúp doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn lực và công nghệ. Cạnh tranh trong ngành công nghiệp cũng thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng cải tiến để duy trì vị thế trên thị trường.

III. Thực trạng đổi mới tại Thái Nguyên

Tại Thái Nguyên, mặc dù các doanh nghiệp công nghiệp đã có những bước tiến trong việc áp dụng đổi mới sáng tạo, nhưng tốc độ đổi mới vẫn còn chậm. Nguyên nhân chính là do thiếu đầu tư vào R&D và trình độ nhân lực còn hạn chế. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các chính sách hỗ trợ từ chính phủ chưa đủ mạnh để thúc đẩy đổi mới. Thái Nguyên cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

3.1. Đánh giá thực trạng

Theo số liệu thống kê, chỉ có khoảng 30% các doanh nghiệp công nghiệp tại Thái Nguyên thực hiện các hoạt động đổi mới. Phần lớn các doanh nghiệp tập trung vào đổi mới quy trình thay vì đổi mới sản phẩm. Điều này cho thấy sự thiếu đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.

3.2. Giải pháp thúc đẩy đổi mới

Để thúc đẩy đổi mới, Thái Nguyên cần xây dựng các chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo nhân lực. Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghệ cao cũng là một giải pháp hiệu quả để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới. Liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp và viện nghiên cứu cũng cần được khuyến khích.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì luận án được kết cấu thành 5 chương: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Lý luận chung về đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 5: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về đổi mới (Innovation) 1. Các nghiên cứu về quan niệm đổi mới (Innovation) “Đổi mới” trong tiếng Anh là “Innovation”. Ở nhiều quốc gia người ta không dịch mà để nguyên thuật ngữ “Innovation” để hiểu rõ nội hàm của thuật ngữ.

Tại Việt Nam thì có rất nhiều tài liệu và các nhà quản lý Việt Nam dịch là “đổi mới sáng tạo”. Trong luận án này, tác giả lựa chọn dịch là “đổi mới”, nhằm giữ nguyên nội hàm của thuật ngữ “Innovation”. Đổi mới là hoạt động mà doanh nghiệp sử dụng các kiến thức, tri thức mới về công nghệ hay thị trường, về tổ chức quản lý. để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý nhằm đáp ứng được những nhu cầu và đòi hỏi luôn thay đổi của thị trường, thông qua đó giúp doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Clausen và cộng sự (2013) khẳng định động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động đổi mới đó là: Do sức ép cần phải tồn tại của doanh nghiệp; Do những cơ hội, lợi ích mà công nghệ mới đem lại (Công nghệ ngoại sinh so với công nghệ nội sinh; công nghệ khai thác so với công nghệ thăm dò); và do cơ hội, lợi ích kinh tế của các kết quả đổi mới đem lại như: Tăng lợi nhuận, tăng thị phần hoặc tăng sức mạnh thị trường. Nguồn gốc của kết quả đổi mới là do đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và mục tiêu của hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đổi mới là nhằm kiếm được lợi nhuận cao từ đầu tư R&D hay kiếm được tiền từ cho thuê các ý tưởng hoặc sáng chế mới. Chính vì thế, để đo lường đầu vào của hoạt động đổi mới, các nhà khoa học thường sử dụng chỉ tiêu R&D (Flor và Oltra, 2004; Bygrave, 1992; Buddelmeyer và cộng sự, 2006). Chỉ tiêu R & D sẽ thể hiện nỗ lực đổi mới của doanh nghiệp, tuy nhiên chỉ tiêu này lại không thể hiện được kết quả của đổi mới.

Bởi vì nhiều khi hoạt động nghiên cứu và phát triển không dẫn đến việc tạo ra các sản phẩm hoặc quy trình mới, nguyên nhân là do các thất bại của hoạt động R&D. Do vậy, nhiều nghiên cứu coi chỉ tiêu R&D như một biến số độc lập trong mô hình phương trình 8 đổi mới. Điều này đã được khẳng định trong nghiên cứu của Becheikh và cộng sự (2006). Tác giả cho rằng chỉ tiêu R&D thường được dùng để "đo lường các phát minh hơn là các đổi mới".

Ngoài ra, đo lường đổi mới có thể thông qua phiếu khảo sát. Đây là phương pháp thường được dùng hiện nay để tìm hiểu về kết quả đổi mới trong các doanh nghiệp. Phương pháp này đang được sử dụng phổ biến ở các nước Châu Âu (Greenhalg và Rgoers, 2010), tại đây một cuộc khảo sát về đổi mới có quy mô lớn là Khảo sát đổi mới cộng đồng (CIS), được bắt đầu tiến hành vào năm 1991. Đo lường bằng phiếu khảo sát thường sử dụng để thu thập dữ liệu với quy mô lớn và sử dụng nhiều biến số khác nhau nhằm đánh giá hoạt động đổi mới của doanh nghiệp.

Các biến độc lập và biến phụ thuộc được lựa chọn để phân tích hồi quy. Đối với mỗi biến, cần đưa ra mô tả chi tiết, thang đo và sự tác động của biến độc lập tới biến phụ thuộc. Greenhalg và Rgoers (2010) lại cho rằng đo lường đổi mới bằng phiếu khảo sát không phải công việc đơn giản và dễ dàng. Nguyên nhân là do khó khăn trong khâu thiết kế nội dung câu hỏi cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, lý luận nền tảng vẫn còn rất nhiều tranh cãi, việc thu thập dữ liệu rất phức tạp do quy mô mẫu lớn, sự phản hồi từ các doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả.

Greenhalg và Rgoers (2010) cho biết, ban đầu CIS chỉ điều tra về quy trình và sản phẩm mới mà các doanh nghiệp đã công bố, tuy nhiên CIS lại không phân biệt liệu các đổi mới này là mới trên thị trường hay chỉ mới với doanh nghiệp. Về sau, CIS đã thêm vào các câu hỏi mới trong các cuộc khảo sát nhằm phân biệt những đổi mới nào là mới đối với doanh nghiệp, mới với ngành, hoặc mới với quốc gia. Tuy nhiên, biện pháp đo lường đổi mới thông qua phiếu khảo sát cũng bị chỉ trích vì phương pháp này chỉ nắm bắt được nỗ lực đổi mới ở biên độ rộng (bao nhiêu doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới), chứ không phải cường độ của những nỗ lực (mức độ hoạt động đổi mới qua các giai đoạn khác nhau như thế nào (Buddelmeyer và cộng sự, 2006 ; Palangkaraya và cộng sự, 2016). Arrow (1962) cho rằng đổi mới là một quá trình từ khi hình thành ý tưởng, cho đến khi thương mại hóa các kết quả đổi mới.

Tuy nhiên khó khăn của đổi mới đó là sự không chắc chắn cho thành công của hoạt động đổi mới. Hay kết quả đổi 9 mới doanh nghiệp nên bán hay cho thuê, hay thương mại hóa? Rủi ro cho doanh nghiệp tiến hành đổi mới khi kết quả đổi mới là “sản phẩm, hàng hóa công cộng”, thì doanh nghiệp cũng sẽ không đạt được lợi nhuận như là kỳ vọng. Arrow (1962) nhấn mạnh rằng kết quả đổi mới mà tạo ra “hàng hóa công cộng” sẽ làm giảm động cơ đổi mới trong doanh nghiệp. Bởi vì, doanh nghiệp phải trả chi phí cho hoạt động đổi mới nhưng không được hưởng lợi về mặt kinh tế đối với kết quả kinh tế (nguyên nhân có thể là do sự bắt chước).

Arrow (1962) cho rằng để giải quyết vấn đề này thì bằng sáng chế là một giải pháp khả thi. Bởi vì bằng sáng chế sẽ loại trừ những người bắt chước sử dụng kiến thức mới mà doanh nghiệp đã tạo ra, từ đó doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc độc quyền các kết quả đổi mới. Theo tác giả Nguyễn Đình Bình (2015), đổi mới được chia làm 02 loại là đổi mới đóng và đổi mới mở. Trong đó, đổi mới đóng (đổi mới truyền thống) đây là hình thức đổi mới chỉ dựa vào các nguồn lực bên trong doanh nghiệp.

Với hình thức đổi mới này doanh nghiệp thường phải chi số tiền rất lớn mua máy móc thiết bị tiên tiến phục vụ hoạt động nghiên cứu, chiêu mộ những người ưu tú có năng lực vượt trội để tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhằm đưa ra được các phát minh mới, các công nghệ hiện đại, hoặc sản phẩm mới để dẫn đầu thị trường. Mô hình này đã từng được rất nhiều các doanh nghiệp áp dụng và thành công trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, hiện nay hình thức đổi mới này không còn phù hợp, khi doanh nghiệp tiến hành đổi mới mà quy mô công nghệ vượt xa năng lực công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, tốc độ thay đổi công nghệ thì nhanh chóng, mặt khác do chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lại thường rất lớn. Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự liên kết hợp tác giữa doanh nghiệp với nhiều tổ chức hay doanh nghiệp khác, hình thức đổi mới như vậy gọi là đổi mới mở.

Với hình thức đổi mới này thì doanh nghiệp sẽ chấp nhận việc chia sẻ nguồn lực đổi mới với bên ngoài, cũng như là chia sẻ lợi ích với các đối tác trong nghiên cứu, thường thì các đối tác là các trường đại học, các viện nghiên cứu. Hình thức này không những giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí trong việc duy trì hoạt động nghiên cứu và phát triển, vẫn bảo đảm tính liên tục và năng lực trong hoạt động đổi mới của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi áp dụng hình thức này ngoài việc doanh nghiệp phải chia sẻ 10 lợi ích với các đối tác, nó còn có hạn chế khi mà mối liên kết giữa doanh nghiệp với các đối tác nghiên cứu không được chặt chẽ, dẫn đến tình trạng mất bản quyền sáng chế, doanh nghiệp phải phụ thuộc vào các đối tác, không tự đưa ra được các quyết định trong đổi mới (Hutter và cộng sự, 2013). Đổi mới là một xu hướng nghiên cứu đã có từ lâu trên thế giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đổi mới trong các lĩnh vực khác nhau (Quintane và cộng sự, 2011).

Tuy nhiên có hai trường phái rõ rệt về đổi mới, một trường phái coi đổi mới là một quy trình (process), trường phái còn lại xem đổi mới là một kết quả (outcome). Trường phái thứ nhất, đổi mới là một quy trình. Trong trường phái này, các tác giả chỉ chú trọng đến các quy trình hình thành và phát triển ý tưởng (Almeida và cộng sự, 1997) hay quy trình thử nghiệm, sai và sửa liên tục để đạt được hiệu quả trong đổi mới (Brown và cộng sự, 1995). Triguero và Córcoles (2013) nhấn mạnh đổi mới là một quy trình phức tạp, nó không đơn thuần là kết quả của sự khai thác nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ, tài nguyên hay tận dụng các chính sách của nhà nước, mà nó là sự liên kết đổi mới giữa quá khứ và hiện tại.

Nói cách khác, hoạt động đổi mới trong quá khứ sẽ tác động rất lớn đến sự thành công của hoạt động đổi mới ở hiện tại. Bởi vì thông thường hoạt động đổi mới trong hiện tại của doanh nghiệp sẽ được phát triển từ nền tảng của hoạt động đổi mới trong quá khứ. Hơn thế nữa, hoạt động đổi mới trong quá khứ và hiện tại sẽ định hướng hoạt động đổi mới trong tương lai. Theo Phùng Xuân Nhạ (2013), đổi mới là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu, phát triển, lập kế hoạch, đề ra các biện pháp thực thi và cuối cùng là thương mại hóa.

Trong khi đó, Richard R. Nelson (1993) lại cho rằng "Đổi mới là quá trình chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận mới trong lĩnh vực xã hội".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới trong doanh nghiệp công nghiệp tại Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những yếu tố chính thúc đẩy sự đổi mới trong các doanh nghiệp công nghiệp tại khu vực Thái Nguyên. Tác giả phân tích các yếu tố như công nghệ, nguồn nhân lực, và môi trường kinh doanh, đồng thời chỉ ra tầm quan trọng của việc áp dụng các chiến lược đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức mà các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa quy trình đổi mới, từ đó tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý và phát triển trong lĩnh vực kinh tế, hãy tham khảo các tài liệu sau: Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm bắt buộc trên địa bàn huyền Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, nơi bạn có thể tìm hiểu về quản lý trong bối cảnh địa phương; Luận văn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của nguồn nhân lực trong đổi mới; và Phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn về mối liên hệ giữa các yếu tố kinh tế và sự phát triển bền vững. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến đổi mới và phát triển trong doanh nghiệp.