CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới: Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về công bố thông tin. Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của tác giả Cerf (1961) sử dụng báo cáo thường niên của 258 của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết tại sở giao dịch khác, 156 công ty OTC trong giai đoạn từ tháng 7/1956 đến tháng 6/1957. Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin với quy mô tài sản, số lượng cổ đông và lợi nhuận. Gần một thập kỉ sau đó, Singhvi & Desai (1971) dựa trên nghiên cứu của Cerf (1961) cũng đưa ra kết quả tương tự.
Nghiên cứu của Firth (1979) tại Anh đã tiến hành nghiên cứu đối với 180 công ty nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện với quy mô, tình trạng niêm yết và loại công ty kiểm toán. Kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô, tình trạng công ty và công bố thông tin. Và không có mối liên hệ giữa loại công ty kiểm toán và mức độ công bố thông tin. Nghiên cứu McNally et al (1982) tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu trên 103 công ty để nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với quy mô công ty, tỷ lệ lợi nhuận, tăng trưởng, quy mô công ty kiểm toán, nhóm ngành công nghiệp.
Kết quả cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin tự nguyện. Nghiên cứu của Cooke (1992) tại Nhật Bản để nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc với quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp. Nghiên cứu được tiến hành đối với 35 công ty, kết quả cho thấy quy mô công ty, tình trạng niêm yết, nhóm ngành công nghiệp có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện. Năm 1993, Cooke tiếp tục thực hiện nghiên cứu báo cáo thường niên của 48 công ty tại Nhật Bản về mức độ công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công bố không trọng số, tình trạng niêm yết.
Kết quả tìm ra được mức độ công bố thông tin tự nguyện có mối liên hệ với tình trạng niêm yết của công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nghiên cứu của Ahmed and Nicholls (1994) về công bố thông tin bắt buộc được thực hiện tại Bangladesh được tiến hành đối với 63 công ty, 94 mục công bố nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin bắt buộc với chỉ số công bố, quy mô công ty, đòn bẩy, công ty kiểm toán, công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng thông qua sử dụng mô hình hồi quy. Nghiên cứu cho thấy công ty đa quốc gia, trình độ của kế toán trưởng và quy mô công ty ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc. Nghiên cứu của Hossain và các cộng sự (1994) tại Malaysia được tiến hành đối với 67 công ty, 78 mục công bố, sử dụng phương pháp hồi quy đơn biến và đa biến nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công bố, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tài sản, công ty kiểm toán và tình trạng niêm yết.
Kết quả cho thấy quy mô công ty, cấu trúc sở hữu và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Nghiên cứu của Wallace và các cộng sự (1994) tại Tây Ban Nha được tiến hành đối với 50 công ty, 79 mục công bố, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa công bố thông tin với chỉ số công bố, quy mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận, công ty kiểm toán và khả năng thanh khoản. Kết quả cho thấy quy mô công ty và tình trạng niêm yết có ảnh hưởng tích cực, ngược lại thì tính thanh khoản có ảnh hưởng tiêu cực. Nghiên cứu của Owusu- Ansah (1998) nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm công ty đến mức độ công bố thông tin bắt buộc tại Zimbabwe.
Kết quả cho thấy tuổi của công ty, quy mô của công ty, khả năng sinh lời, cấu trúc chủ sở hữu có tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin bắt buộc của công ty. Nghiên cứu của Ho và Wong (2001) nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa bốn cơ chế quản trị doanh nghiệp chính (tỷ lệ giám đốc độc lập so với tổng số giám đốc trong hội đồng quản trị, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán tự nguyện, sự tồn tại của cá nhân vừa là giám đốc điều hành vừa là chủ tịch hội đồng quản trị, và tỷ lệ thành viên gia đình trong hội đồng) và mức độ công bố thông tin tự nguyện ở Hồng Kông. Kết quả cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, có liên quan đáng kể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 và tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong khi tỷ lệ thành viên gia đình trong hội đồng quản trị, có mối liên quan tiêu cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Hạn chế của bài nghiên cứu là chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố về cơ chế quản trị doanh nghiệp, mà không xét đến các nhân tố liên quan đến hoạt động của công ty như lợi nhuận, tính thanh khoản,… Châu và Gray (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và công bố thông tin tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore.
Kết quả cho thấy rằng mức độ sở hữu bên ngoài có liên quan tích cực đến công bố thông tin tự nguyện và nội bộ hoặc quyền sở hữu gia đình có liên quan tiêu cực. Nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002) tại Malaysia được tiến hành đối với 167 công ty, 65 mục công bố, kiểm tra mối liên hệ giữa công bố thông tin tự nguyện với chỉ số công bố, quản trị doanh nghiệp, văn hóa và đặc điểm cụ thể của công ty thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy các thành viên gia đình thuộc hội đồng quản trị, chủ tịch không điều hành có tác động đến việc công bố thông tin tự nguyện. Một trong những hạn chế trong nghiên cứu này là nó chỉ xem xét mối quan hệ của ba nhóm biến với mức độ công bố tự nguyện.
Như vậy, một phần mở rộng của nghiên cứu này sẽ là kết hợp các nhóm biến này trong các nghiên cứu nhằm xem xét mức độ công bố bắt buộc đặc biệt ở các nước đang phát triển bởi vì người ta thường lập luận rằng các nước như vậy thông tin thường không được công bố rộng rãi và có thể không tuân thủ tất cả các yêu cầu. Nghiên cứu của Ali và các cộng sự (2004) được thực hiện tại Pakistan, Ấn Độ và Bangladesh nhằm kiểm tra tác động của quy mô công ty, đòn bẩy, ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia, quy mô của các công ty kiểm toán và lợi nhuận đến công bố thông tin bắt buộc với. Kết quả chỉ ra quy mô công ty, ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia, lợi nhuận có mối liên hệ tích cực đối với công bố thông tin bắt buộc. Nghiên cứu của Waresul Karim và Jamal Uddin Ahmed (2005) nhằm kiểm tra mức độ công bố thông tin tài chính khi áp dụng các chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS) ở Bangladesh và mối liên hệ giữa một số thuộc tính của công ty và mức độ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 công khai trong công ty báo cáo hàng năm ở Bangladesh.
Bài nghiên cứu sử dụng chỉ số công bố không trọng số bao gồm 411 mục và áp dụng cho báo cáo hàng năm của 188 công ty thông qua việc sử dụng nhiều mô hình hồi quy tuyến tính. Kết quả chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, mức độ bảo mật của các loại giao dịch chứng khoán và liên kết quốc tế của kiểm toán viên của công ty, và chi nhánh đa quốc gia đều liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin. Nghiên cứu của Oliveria và công sự (2006) tại Bồ Đào Nha đưa ra kết quả: quy mô công ty, loại kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, ngành có tác động tích cực đến việc công bố thông tin, trong khi đó đòn bẩy tài chính và lợi nhuận không có tác động. Nghiên cứu Agea và Onder (2007) tại Thổ Nhĩ Kỳ về công bố thông tin tự nguyện.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng: lợi nhuận, kiểm toán viên có mối liên hệ tích cực đối với công bố thông tin tự nguyện, ngược lại thì quy mô công ty có tác động tiêu cực; các yếu tố như cấu trúc sở hữu, đòn bẩy, tính đa quốc gia không có mối liên hệ với việc công bố thông tin tự nguyện. Nghiên cứu của Nazli và Ghazali (2007) đã kiểm tra ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với trách nhiệm công bố thông tin, nghiên cứu được thực hiện ở Malaysia. Kết quả cho thấy, các công ty mà các giám đốc nắm giữ một tỷ lệ cổ phần cao hơn thường ít công bố thông tin, trong khi các công ty mà chính phủ là một cổ đông lớn, thường công bố thông tin nhiều hơn. Nghiên cứu của Archambault về công bố thông tin được thực hiện tại 37 quốc gia, kết quả cho thấy các yếu tố về tài chính như: niêm yết sàn giao dịch, cổ tức, quy mô công ty kiểm toán và các yếu tố hoạt động như số lượng ngành, doanh thu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin; quyền sở hữu, đòn bẩy, quy mô công ty lại không có tác động đến việc công bố thông tin.
Nghiên cứu thực nghiệm của Mohamed và các cộng sự (2009) về mức độ quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Malaysia. Các yếu tố quản trị được kiểm tra là quy mô của Hội đồng quản trị, tỷ lệ các giám đốc độc lập không điều hành trong hội đồng quản trị, cổ phần sở hữu bên ngoài, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 kiểm soát gia đình và tỷ lệ phần trăm thành viên ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồng quản trị. Kết quả của cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quy mô công ty, tỷ lệ các giám đốc độc lập và công bố tự nguyện.