Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chƣơng này chủ yếu khái quát những nét chính của đề tài nghiên cứu gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi 6 nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan.
Chƣơng này gồm hai nội dung chính: (i) cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ thanh toán quốc tế ; (ii) Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam về lĩnh vực đƣợc nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình này khái quát về phƣơng pháp và mô hình đƣợc sử dụng để đo lƣờng, kiểm định và phân tích mức độ tác động của các yếu tố đến chất lƣợng dịch vụ thanh toán quốc tế. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chƣơng trình trình bày kết quả đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến chất lƣợng dịch vụ thanh toán quốc tế dựa vào phƣơng pháp và mô hình đã đề cập ở Chƣơng 3. Dựa vào kết quả đó để tiến hành phân tích và thảo luận về đề tài nghiên cứu. Kết luận và hàm ý chính sách. Tại chƣơng này, tác giả đƣa ra giải pháp cho từng yếu tố nghiên cứu và đƣa ra hƣớng phát triển của nghiên cứu trong tƣơng lai.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm về thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là thanh toán giữa các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hoa quốc tế hay các hợp đồng dịch vụ có yếu tố nƣớc ngoài. Việc thanh toán này đƣợc thực hiện chủ yếu bởi các ngân hàng và gắn liền với việc đổi tiền theo thị giá ngoại hối.
Theo Trầm Thị Xuân Hƣơng (2006), thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nƣớc với nhau. Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ cở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nƣớc này với cá nhân, tổ chức nƣớc khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ ngân hàng của các nƣớc có liên quan. 7 Dịch vụ thanh toán quốc tế là việc mà NHTM thay mặt khách hàng thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đồng thời tƣ vấn, hỗ trợ bảo vệ khách hàng khi sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng để hạn chế rủi ro trong thanh toán. Ngân hàng sử dụng một số phƣơng thức để phụ vụ khách hàng nhƣ: chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ.
Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán về hàng hóa và dịch vụ thông qua thanh toán bù trừ, chuyển khoản qua mạng lƣới thanh toán điện tử trong nội bộ hệ thống ngân hàng hay khác hệ thống ngân hàng, chuyển khoản trong nƣớc hay nƣớc ngoài (Trần Hoàng Ngân và cộng sự, 2009). Thanh toán quốc tế là hoạt động diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thƣơng mại, đầu tƣ và hợp tác quốc tế thông qua mạng lƣới các ngân hàng trên thế giới. Dịch vụ thanh toán quốc tế là dịch vụ rất thông dụng và phổ biến hiện nay. Ở đó, ngân hàng có thể thu đƣợc nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế với ngân hàng với hình thức khoản ký quỹ chờ thanh toán.
Đặc điểm thanh toán quốc tế Theo Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Thị Hồng Hải (2016), hoạt động thanh toán quốc tế có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của pháp luật và các tập quán quốc tế. Hoạt động thanh toán quốc tế liên quan đến các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia, do đó các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế. Phòng thƣơng mại quốc tế (ICC) ban hành UCP, URC, INCOTERMS… tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thƣơng mại và thanh toán quốc tế, tránh những hiểu lầm đáng tiếc xảy ra. Thứ hai, hoạt động thanh toán quốc tế đƣợc thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng.
Trừ một số lƣợng rất nhỏ hàng hóa xuất nhập khẩu đƣợc mua bán qua con đƣờng tiểu ngạch thì hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia đƣợc phản ánh thông qua doanh số thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng thƣơng mại. Trong thực tiễn, ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu không đƣợc phép thanh toán trực tiếp cho nhau, mà theo luật định phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Việc thanh toán qua ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả đƣợc thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng, hiệu quả. 8 Thứ ba, trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu nhƣ không đƣợc sử dụng trực tiếp mà thông qua các phƣơng tiện thanh toán, một số phƣơng tiện tiêu biểu nhƣ: hối phiếu, kỳ phiếu, séc thanh toán.
Thứ tư, trong thanh toán quốc tế, ít nhất một trong hai bên có liên quan đến ngoại tệ. Do đó, hoạt động thanh toán quốc tế sẽ chịu ảnh hƣởng trực tiếp của tỷ giá hối đoái và vấn đề quản lý dự trữ ngoại hối của quốc gia. Thứ năm, ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu bằng tiếng Anh, đòi hỏi trình độ chuyên môn, công nghệ tƣơng xƣớng với trình độ quốc tế. Thứ sáu, giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế.
Ngoài ra còn bị chi phối bởi luật pháp các nƣớc, bởi chính sách ngoại thƣơng và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán. Các phƣơng thức thanh toán quốc tế chủ yếu Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), việc lựa chọn phƣơng thức thanh toán quốc tế phù hợp sẽ có ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền lợi của ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu. Vì vậy khi làm lô hàng xuất nhập khẩu, cả hai bên mua và bên bán phải thỏa thuận và lựa chọn phƣơng thức thanh toán quốc tế phù hợp. Các phƣơng thức thanh toán quốc tế chủ yếu thuộc 3 nhóm, sắp xếp tăng dần theo mức độ tham gia của ngân hàng là: Phƣơng thức chuyển tiền (Remittance); Phƣơng thức nhờ thu (Collection); Phƣơng thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C).
Phƣơng thức chuyển tiền (Remittance) Thứ nhất, chuyển tiền là phƣơng thức thanh toán mà ngƣời trả tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho ngƣời đƣợc hƣởng lợi (ngƣời bán, đơn vị xuất khẩu, ngƣời nhận tiền,.) theo thông tin đƣợc cung cấp trong một thời gian xác định. Dựa theo hình thức, phƣơng thức chuyển tiền bao gồm: chuyển tiền bằng thƣ (Mail Transfer – M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T). Trong đó, phƣơng thức chuyển tiền bằng thƣ (M/T), lệnh thanh toán (Bank Draft) của ngân hàng trả tiền đƣợc thực hiện bằng thƣ gửi đến ngân hàng ngƣời thụ hƣởng. Hình thức này tuy chậm nhƣng có chi phí thấp.
Ngày nay, hình thức chuyển tiền bằng thƣ rất hạn chế. Nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các giao dịch chuyển tiền đƣợc thực hiện chủ yếu qua hình thức bằng điện (T/T), ngân hàng chuyển tiền thực hiện thanh toán thông qua một bức điện gửi cho ngân hàng 9 ngƣời thụ hƣởng bằng mạng SWIFT. Hình thức chuyển tiền bằng điện cho phép giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác, an toàn hơn chuyển tiền bằng thƣ. Nếu căn cứ vào thời điểm chuyển tiền so với thời điểm giao hàng trong giao dịch ngoại thƣơng, phƣơng thức chuyển tiền chia thành: Chuyển tiền trƣớc khi giao hàng (Payment before shipment) và chuyển tiền sau khi giao hàng (Payment after shipment).
Thời gian thực hiện chuyển tiền trong giao dịch ngoại thƣơng do hai bên thỏa thuận, thƣờng đƣợc giao kết trong hợp đồng ngoại thƣơng. Trong phƣơng thức chuyển tiền, việc thanh toán tiền hàng đƣợc thực hiện thông qua thiện chí của ngƣời mua, không chịu sự điều chỉnh của tập quán quốc tế, việc giao hàng thuộc trách nhiệm của ngƣời bán. Do đó, ngƣời bán sẽ gặp phải rủi ro nếu bên mua không thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán nếu hai bên thỏa thuận thanh toán sau khi giao hàng. Và ngƣợc lại, ngƣời mua sẽ gặp rủi ro mất vốn nếu thỏa thuận thanh toán trƣớc khi giao hàng.
Do vậy, phƣơng thức này thƣờng chỉ đƣợc áp dụng giữa hai bên mua bán có sự sin cậy, mối quan hệ lâu năm và số tiền giao dịch không quá lớn. Phƣơng thức nhờ thu (Collection) Nhờ thu là phƣơng thức thanh toán, mà đơn vị xuất khẩu (ngƣời bán) sau khi hoàn tất nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho ngƣời nhập khẩu (ngƣời mua), ủy thác cho ngân hàng nhờ thu xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý từ đơn vị nhập khẩu (ngân hàng thu hộ) để đƣợc thanh toán, chấp nhận hối phiếu (hoặc séc). Phƣơng thức này đƣợc thực hiện theo quy tắc thống nhất do tổ chức thƣơng mại quốc tế (ICC), dƣới tên gọi là URC 522 do phòng thƣơng mại quốc tế Paris ban hành, áp dụng từ 01/01/1996. Trong thanh toán ngoại thƣơng, nhờ thu đƣợc chia làm hai loại: Nhờ thu trơn (clean collection): Là phƣơng thức mà ngƣời bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền trên tờ hối phiếu ở ngƣời mua, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thƣơng mại đƣợc gửi trực tiếp cho ngƣời nhập khẩu không thông qua ngân hàng.
Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection): Là phƣơng thức mà ngƣời bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ tiền tờ hối phiếu đó, với điều kiện là ngƣời mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao toàn bộ 10 chứng từ gửi hàng cho ngƣời mua để họ nhận hàng. Dựa vào điều kiện trao chứng từ trên lệnh nhờ thu, phƣơng thức nhờ thu đƣợc chia thành: (1) Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documents against Payment – D/P); (2) Nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ (Documents against Acceptance – D/A); (3) Nhờ thu chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác trao chứng từ (Documents against Other Terms and Conditions – D/OT/TC).