chương 1, tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể nhằm xem xét các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 – 2021. Bên cạnh đó, một số đóng góp của khoá luận về cấu trúc vốn của doanh nghiệp xây dựng Việt Nam cũng được thể hiện rõ ở chương này. Do đó, nội dung trong Chương 2 sẽ giúp hiểu rõ hơn về tổng quan cấu trúc vốn và các nghiên cứu thử nghiệm trước đó về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng. 6 CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM 2.
Lý thuyết về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn của một công ty được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bởi vì với một cơ cấu vốn tối ưu vừa giúp một công ty có thể vừa tối đa hóa giá trị và giảm thiểu chi phí sử dụng vốn của công ty. Theo Macguigan và cộng sự (2006), cấu trúc vốn của công ty là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Theo Ahmad và cộng sự (2012), cấu trúc vốn là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong tổng nguồn vốn của một công ty. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), cấu trúc vốn của một công ty là tỷ lệ giữa phần nợ và phần vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của công ty.
Trong luận văn này tác giả định nghĩa cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà một công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh (Gill và cộng sự, 2009; Azhagaiah và Gavoury, 2011; Shubita và Alsawalhah, 2012). Theo Nguyễn Đình Luân (2016), cấu trúc vốn của công ty thường thay đổi theo chu kỳ kinh tế, có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lợi nhuận của cổ đông. Theo Ngô Kim Phượng và cộng sự, việc phân tích cấu trúc vốn được sắp xếp theo cách tiếp cận dựa trên bảng cân đối kế toán và được giải thích chi tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính của các công ty bổ sung tính ổn định, bao gồm cả nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả: bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn: là toàn bộ khoản nợ tại thời điểm báo cáo có thời hạn trả nợ không quá 12 tháng hoặc ngắn hơn một chu kỳ kinh doanh thông thường, bao gồm khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả dài hạn khác, vay và thuê tài chính.
Nợ dài hạn: Là tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo như: khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn tại thời điểm báo cáo. 7 Vốn chủ sở hữu: bao gồm Vốn cổ phần thường, Vốn cổ phần ưu đãi, Lợi nhuận giữ lại được phản ánh chung thành khoản Vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán. Phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các loại nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên góp vốn trong công ty. Quan điểm truyền thống Daivd Durand công bố về cấu trúc vốn của doanh nghiệp năm 1952, đây là công bố sớm nhất.
Ông đưa ra các giả định: (i) Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có thuế TNDN; (ii) Thị trường tài chính là không hoàn hảo. Việc vay vốn có thể khiến công ty gặp rắc rối về tài chính. Ngoài ra, chủ sở hữu và chủ nợ có thể thay đổi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng nếu hiệu quả sử dụng nợ của họ thấp. Cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống khẳng định rằng: Khi một công ty bắt đầu vay nợ, chi phí nợ thường rẻ hơn vốn chủ sở hữu.
Với chi phí nợ thấp, kết hợp với lợi ích từ lá chắn thuế sẽ khiến WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng, doanh nghiệp có nhiều thuận lợi hơn bất lợi. Tuy nhiên, khi đòn bẩy của công ty tăng lên thì mức độ rủi ro của nó cũng tăng theo, vì vậy chủ sở hữu cần phải tăng khả năng sinh lời của họ. Kết quả là công ty phải chịu lỗ. Ngoài ra, tỷ lệ nợ cao khiến công ty dễ gặp khó khăn về tài chính do không trả được nợ.
Mức nợ cao hơn làm tăng WACC. Theo lý thuyết này, sẽ luôn có một cấu trúc vốn tối ưu để tối đa hóa và do đó giảm thiểu giá trị của công ty. Từ quan điểm truyền thống, không có lý thuyết cơ bản nào chứng minh chi phí vốn chủ sở hữu sẽ tăng bao nhiêu do tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu hoặc chi phí nợ, do đó, tăng bao nhiêu là do rủi ro vỡ nợ. Vì vậy, Lý thuyết M&M ra đời trên cơ sở cung cấp bằng chứng cũng như bổ sung thêm những khiếm khuyết mà quan điểm này còn thiết sót (Bringham và Houston, 2009).
Lý thuyết M&M Trái ngược với quan niệm truyền thống, lý thuyết về mối liên hệ giữa vốn và giá trị doanh nghiệp lần đầu tiên được trình bày bởi Modilligani và Miller vào năm 1958. Hai tác giả đã khám phá ra rằng liệu giá trị vốn tăng hay giảm phụ thuộc vào việc tăng hay giảm khoản vay. Giả định sau đây được diễn giải bởi hai tác giả: (i) Không 8 có thuế TNDN và thuế TNCN; (ii) Không có các loại chi phí sau: chi phí giao dịch, chi phí nợ và chi phí phá sản; (iii) Tất cả các nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp đều có lãi suất vay như nhau; (iv) Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo. Lý thuyết M&M được thể hiện thành 2 mệnh đề: Mệnh đề (I) đề cập đến giá trị của công ty; Mệnh đề (II) đề cập đến chi phí công ty phải chi trả khi sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài.
Ngoài ra, các mệnh đề này được xem xét trong hai trường hợp là không có thuế và có thuế.1) Nguồn: Modigliani và Miller (1958) Hình 2. 1: Cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống Trong điều kiện có thuế: khi doanh nghiệp sử dụng nợ, nhờ hưởng lợi ích từ lá chắn thuế, giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng. Khi giá trị doanh nghiệp sử dụng nợ lớn hơn giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ đúng bằng hiện giá khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay. Mức độ sử dụng nợ tăng lên trong khi chi phí sử dụng nợ giảm, từ đó WACC của doanh nghiệp sử dụng nợ thấp hơn WACC doanh nghiệp không sử dụng nợ.2) T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D: giá trị của nợ vay Nguồn: Modigliani và Miller (1963) Hình 2.
2: Giá trị của doanh nghiệp theo lý thuyết M&M khi có thuế Do đó, cấu trúc và giá trị công ty được liên kết với nhau, phù hợp với mô hình thuế do Modigliani và Miller phát triển vào năm 1963. Giá trị của doanh nghiệp tăng lên khi việc sử dụng nợ tăng lên và đạt đến đỉnh điểm khi nó được tài trợ hoàn toàn bằng nợ. Được biểu diễn bằng công thức: rE= rU + (rU – rD) * D/E (2.3) Trong điều kiện có thuế: nếu có thuế thu nhập doanh nghiệp thì lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bầy tài chính hay tỉ số nợ (D/E), nhưng mối quan hệ được biểu diễn bởi: rE= rU + (rU – rD) * D/E * (1-t) (2.4) 10 Mặc dù Lý thuyết M&M đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tác động của cấu trúc vốn đến giá trị công ty và WACC, nhưng các giả định trên có lẽ không xác đáng, điều này làm hạn chế việc áp dụng lý thuyết M&M vào thực tế. Và đây là cơ sở cho sự phát triển của các lý thuyết hiện đại sau này.
Lý thuyết đánh đổi Ý tưởng này lần đầu tiên được đưa ra bởi Kraus & Litzenberger (1973) và sau đó là Myers (1977) phát triển thêm. Các tác giả cho rằng công ty càng nợ nhiều thì càng có giá trị. Cấu trúc vốn là nơi lợi ích của lá chắn thuế có thể bù đắp chi phí khó khăn tài chính. Tuy nhiên, một khi tỷ lệ nợ đạt đến một mức nhất định, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ lớn hơn lợi ích của việc bảo vệ thuế lãi suất.
Kể từ đó, giá trị của công ty liên tục giảm và khả năng phá sản tăng lên. Giá trị công ty vay nợ = Giá trị công ty không vay nợ cộng (+) Hiện giá lá chắn thuế trừ (-) Hiện giá chi phí khốn khó tài chính.5) Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi. Thuế thu nhập doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp có mức thuế suất khác nhau, doanh nghiệp có mức thuế suất cao hơn sẽ có động cơ vay nợ cao hơn, vay nợ càng nhiều lợi ích càng lớn. Từ đó, lợi nhuận từ lá chắn thuế có quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn.
Chi phí khốn khó tài chính Lý thuyết đánh đổi cũng có hàm ý rằng, chi phí khốn khó tài chính nghịch biến với cấu trúc vốn. Doanh nghiệp có khả năng gặp khó khăn tài chính cao hơn sẽ sử dụng nợ ít hơn các doanh nghiệp có ít rủi ro về phá sản. Tài sản hữu hình của công ty Khi tài sản hữu hình được sử dụng để đảm bảo cho các khoản vay, chúng sẽ ảnh hưởng đến CTV. 11 Quy mô công ty Công ty càng lớn, nhà đầu tư càng dễ dàng nắm bắt thông tin.
Do đó, việc vay vốn từ các công ty này sẽ dễ dàng hơn. Họ không có khả năng gặp rắc rối về tài chính. Lợi nhuận Lợi nhuận được xem có mối quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn. Khi doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, tỷ suất sinh lời cao thì sẽ dễ dàng được vay vốn, và bản thân doanh nghiệp cũng muốn tăng tỷ trọng nợ để tối đa hoá lợi nhuận từ lãi vay.