Đặt vấn đề nghiên cứu Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội sáu tháng đầu năm 2013 của chính phủ, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 38.5% tổng sản phẩm trong nước, trong đó ngành xây dựng chiếm khoảng 4-7% tổng sản phẩm trong nước. Tổng chi ngân sách cho ngành xây dựng trong 6 tháng đầu năm 2013 là 72 nghìn tỷ đồng bằng 42. Trong cùng báo cáo cho biết giá trị sản xuất xây dựng sáu tháng đầu năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 325,3 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, ngành xây dựng cũng sử dụng một lượng lớn lao động, chiếm khoảng 6.5% tổng số lao động (số liệu Bộ Lao Động - Thương Binh Xã Hội, 2011).
Vì vậy, có thể nói ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Ngành xây dựng còn tạo việc làm ngắn cũng như dài hạn, kích thích đầu tư và phát triển, đây là những yếu tố góp phần hồi phục nền kinh tế sau giai đoạn khủng hoảng hiện nay. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tính đến ngày 31-12-2012, trong số 55870 doanh nghiệp ngành xây dựng đang hoạt động thì có tới 17000 doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và 2637 doanh nghiệp phải giải thể. Vì vậy muốn trở thành yếu tố góp phần phục hồi nền kinh tế thì trước hết ngành xây dựng phải cải thiện hiệu quả và năng suất của ngành mình.
Theo một số nghiên cứu thì “hiệu quả và năng suất của quá trình xây dựng phụ thuộc một phần vào chất lượng của giao tiếp và quản lý thông tin” (Hoezen, 2006). Đối với một dự án xây dựng, có rất nhiều vấn đề liên quan đến thông tin và quản lý thông tin như: phối hợp trong quá trình thiết kế, cung cấp vật liệu thiết bị trong quá trình thi công, lưu trữ và xử lý các thông tin từ các cơ quan chức năng trong suốt dự án. Nhiệm vụ quản lý tất cả những thông tin cần thiết cho quá trình thiết kế và thi công là một thách thức lớn, và nhiều người tin rằng việc quản lý thông tin hiệu quả cũng là một cách nâng cao sản lượng của ngành xây dựng (Becerik, 2004). 1 Từ khi khái niệm dự án ra đời, kèm theo nó là việc quản lý dự án, một trong những vấn đề về quản lý dự án đó là quản lý thông tin của dự án.
Với nhu cầu quản lý thông tin này, các kỹ thuật quản lý thông tin dự án và công cụ hỗ trợ quản lý thông tin cũng lần lượt xuất hiện. Trong những năm gần đây, ngành công nghệ thông tin và kỹ thuật truyền thông phát triển ngày càng mạnh mẽ và được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực kinh tế, sản xuất. Sự phát triển những ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cũng tăng đáng kể, và các tổ chức hoạt động xây dựng ngày càng quan tâm đến những ứng dụng hỗ trợ quản lý thông tin dự án (Nitithamyong, 2004). Trong dự án xây dựng, giai đoạn thiết kế cũng chứa đựng rất nhiều thông tin có thể kể đến như: hợp đồng, kế hoạch phối hợp giữa các bộ phận,tiến độ, chi phí, hồ sơ bản vẽ và nhiều thông tin khác.
Với một lượng thông tin và tài liệu như vậy, việc quản lý hiệu quả là một thách thức lớn. Ngoài việc quản lý, những thông tin này cần được phân phối đến các bộ phận đúng lúc và đầy đủ nhất để có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận. Pektas (2006) cho rằng sự phối hợp giữa các bên là một trong những yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến chất lượng trong giai đoạn thiết kế. Đáp ứng nhu cầu đó, nhiều hệ thống quản lý thông tin ra đời với nhiều tên gọi khác nhau như: hệ thống quản lý tài liệu (document management system), mạng bên ngoài dự án (project extranet), hệ thống quản lý thông tin dự án (project information management system) … (Bjork, 2002).
Hệ thống quản thông tin lý dự án được xây dựng như là một công cụ hỗ trợ việc quản lý thông tin. Khi được nghiên cứu và phát triển, hệ thống này được kỳ vọng sẽ khắc phục những nhược điểm của các công cụ trước đó như: rút khoảng cách địa lý, tạo một môi trường làm việc chung cho các thành viên tham gia dự án, tạo mội cơ sở dữ liệu thống nhất, đem lại nhiều lợi ích khác cho công tác quản lý thông tin dự án (Nitithamyong, 2004). Mặc dù được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong công tác quản lý thông tin, Nitithamyong (2007) cho rằng hiệu quả của những hệ thống quản lý thông tin 2 đang rất hạn chế và không như mong đợi. Vì thế một nghiên cứu nhằm đánh giá những yếu tố tác động đến hiệu quả của hệ thống quản lý thông tin dự án đã được thực hiện.
Tại Việt Nam, đã có những công ty thiết kế xây dựng áp dụng một phần hoặc toàn bộ hệ thống quản lý thông tin nhằm nâng cao chất lượng công việc của mình. Việc tiến hành một nghiên cứu tương tự nhằm tìm ra những yếu tố quyết định thành công của hệ thống quản lý thông tin dự án là cần thiết. Vì thế đề tài “Yếu tố quyết định thành công của hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng trong xây dựng tại Việt Nam” được chọn để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu được tiến hành với những mục tiêu: - Xác định các tiêu chí đánh giá sự thành công của hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng trong xây dựng tại Việt Nam.
- Xác định những nhân tố quyết định sự thành công của hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng trong xây dựng tại Việt Nam. - Xác định mức độ ảnh hưởng của những nhân tố vừa tìm được lên sự thành công của hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng. - Kiến nghị các giải pháp để nâng cao sự thành công cho hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng. Câu hỏi nghiên cứu Dựa nào những mục tiêu trên, nghiên cứu sẽ trả lời những câu hỏi: - Làm thế nào để đánh giá được một hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng trong xây dựng là thành công? - Những nhân tố quyết định sự thành công của một hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng tại Việt Nam là gì? - Những nhân tố này ảnh hưởng thế nào đến sự thành công của hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng? - Những giải pháp cho việc xây dựng hệ thống quản lý thông tin dự án qua mạng trong xây dựng? 3 1.
Phạm vi nghiên cứu Đề tài thực hiện khảo sát đối với công ty, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thiết kế xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian thực hiện: 6 tháng từ 06/2013 đến 12/2013. Nghiên cứu hướng đến đối tượng đã sử dụng hệ thống quản lý thông tin dự án, đang làm việc trong lĩnh vực thiết kế xây dựng. Đóng góp của nghiên cứu Về mặt học thuật, nghiên cứu cung cấp một khung yếu tố đánh giá hệ thống quản lý thông tin dự án trong lĩnh vực thiết kế xây dựng.
Khung yếu tố này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về hệ thống quản lý thông tin dự án đối với các lĩnh vực khác trong ngành xây dựng. Dựa vào mối liên hệ giữa các yếu tố và sự cải thiện do hệ thống đem lại, các tổ chức và công ty có thể phát triển những chính sách nhằm cải thiện hiệu quả của hệ thống quản lý thông tin của công ty. Kết quả của nghiên cứu còn có thể được ứng dụng vào việc xây dựng một hệ thống quản lý thông tin dự án mới với những yếu tố quyết định sự thành công được đảm bảo. Với những cải thiện do hệ thống quản lý thông tin dự án đem lại, và mối liên hệ giữa những yếu tố với sự cải thiện này, nghiên cứu sẽ là một tài liệu hữu ích nhằm thuyết phục các công ty và tổ chức áp dụng hệ thống quản lý thông tin dự án cho tổ chức của mình.
Bố cục luận văn Trong các chương tiếp theo, luận văn sẽ được chia thành 4 phần. Chương 2 sẽ trình bày về những lý thuyết liên quan đến nghiên cứu cùng với mô hình và giả thuyết của nghiên cứu. Chương kế tiếp sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, quá trình nghiên cứu sơ bộ và thu thập dữ liệu cũng được trình bày trong chương này. Quá trình và kết quả nghiên cứu chính thức sẽ được trình bày trong chương 4.
Chương cuối sẽ trình bày những kết luận và kiến nghị rút ra được từ kết quả nghiên cứu, kèm theo đó là nhận xét về những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương trước đã giới thiệu chi tiết các vấn đề nghiên cứu, giới hạn của luận văn. Từ ý tưởng đến những hệ thống quản lý thông tin dự án đang được áp dụng đều được phát triển bởi những nhà nghiên cứu, những kỹ sư thực hành cả trong lĩnh vực xây dựng cũng như công nghệ thông tin. Phần tổng quan nhằm nêu lên những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Bao gồm: - Những kiến thức về hệ thống quản lý thông tin dự án. Xác định những yếu tố quan trọng đối với hệ thống quản lý thông tin dự án. - Đánh giá những nghiên cứu đã thực hiện về việc xem xét mối liên của hệ thống quản lý thông tin dự án và việc cải thiện công việc của các công ty và tổ chức. Kiến thức về hệ thống quản lý thông tin dự án 2.
Dự án xây dựng PMBOK-2008 định nghĩa dự án là một nỗ lực tạm thời nhằm tạo ra một sản phẩm hay một kết quả độc nhất. Đối với lĩnh vực xây dựng thì sản phẩm này chính là công trình được tạo nên. Bởi vì tính chất độc nhất của dự án, việc quản lý dự án trở nên quan trọng và cần thiết để có thể đạt được kết quả đã đề ra. Quản lý dự án là việc áp dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật nhằm đạt được các yêu cầu của dự án.
Có thể hiểu quá trình quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, kiểm soát điều phối các hoạt động trong dự án. Việc kiểm soát và điều phối các công tác chiếm phần lớn thời gian và có khối lượng công việc trong suốt dự án. Quá trình kiểm soát và điều phối công tác này được đặc trưng bằng hoạt động trao đổi thông tin giữa các bên liên quan trong dự án.