Chương 1 sẽ giới thiệu chung về khóa luận, trong đó mục 1.2 sẽ trình bày về ý tưởng thực hiện khóa luận; mục 1.3 trình bày về Đối tượng, mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu; mục 1.4 trình bày phương pháp và số liệu nghiên cứu; mục 1.5 sẽ đề cập vềkết quả nghiên cứu và mục 1.6 sẽ giới thiệu chung về kết cấu khóa luận. Ý TƯỞNG THỰC HIỆN KHÓA LUẬN Ý tưởng thực hiện khóa luận này dựa trên nhiều biến động lớn về kinh tế của các quốc gia trong khu vực trong thời gian gần đây (trình bày tại mục 1.1); việc thực thi chính sách tiền tệ ngân hàng trước tình hình biến động kinh tế vừa qua (trình bày tại mục 1.2); một số nét cơ bản về hoạt động của hệ thống QTDND tại Việt Nam hiện nay (trình bày tại mục 1.3); sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ, ảnh hưởng của các nhân tố nội tại và các nhân tố của nền kinh tế đến tỷ suất sinh lời của các Quỹ tín dụng nhân dân (trình bày tại mục 1. Biến động về kinh tế trong thời gian gần đây 1 Khái niệm tỷ suất sinh lời được trình bày tại Phụ lục A. 2 Khái niệm, đặc điểm, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân sẽ được trình bày ở Phụ lục B.
1 z Hoạt động của ngành Ngân hàng 6 tháng đầu năm đã đạt nhiều kết quả tích cực, đóng góp vào việc phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước3: Tính đến thời điểm 19/6/2015, tăng trưởng tín dụng đạt 6,28% so với tháng 12 năm trước, huy động vốn của các NHTM tăng 4,58%, tổng phương tiện thanh toán tăng 5,09%, thanh khoản của hệ thống tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của nền kinh tế thế giới và trong khu vực như việc phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc trong thời gian gần đây sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế của Việt Nam (cán cân thương mại, thị trường ngoại hối ,…). Trước tình hình trên, Chính phủ cùng với các bộ ngành đã đề ra nhiều biện pháp (điều chỉnh biên độ tỷ giá,…) nhằm đảm bảo cho nền kinh tế thích ứng với các biến động, hạn chế thiệt hại cho quốc gia, liệu những điều chỉnh của nền kinh tế thông qua những biến sốnhư lãi suất, tỷ lệ lạm phát(yếu tố bên ngoài)sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ là các ngân hàng nói chung và các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói riêng ? Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác, không thể nào kiểm soát được hết những yếu tố tác động đến nó, tuy nhiên, trước áp lực, khó khăn tác động từ bên ngoài đến hoạt động thì những người làm công tác quản trị có thể thay đổi các yếu tố bên trong để thích ứng với môi trường, qua đó sẽhạn chế rủi ro, đồng thời có thể đạt được các kỳ vọng kinh doanh đã đề ra (Dieu, 2002).Để làm được điều này, đối với các tổ chức tín dụng là Quỹ tín dụng nhân dân, cần phải xác định các nhân tố bên trong như: nguồn vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, nguồn vốn huy động từ thành viên,…có tác động hay không đến hiệu suất sinh lời của đơn vị để có cơ sở đưa ra những điều chỉnh hoạt động cho phù hợp trong từng thời kỳ. Mặt khác, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để xem xét, kết luận về tác động của các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng, tuy nhiên kết quả thu được từ việc tính toán của các công trình lại không thống nhất nhau và cũng chưa có khảo sát nào được thực hiện đối với các đối tượng là các Quỹ tín dụng nhân dân, do vậy, đặt ra vấn đề cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu quan hệ, tác động giữa các yếu tố nội tại bên trong QTDND, 3 Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2015 (truy cập tại http://www.vn/portal); Báo cáo số 73/BC-TCTK ngày 26/6/2015 về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2015 của Tổng cục Thông kế) 2 z gồm: Vốn điều lệ, huy động vốn,chi phí hoạt động và các yếu tố vĩ mô bên ngoài gồm: Lãi suất, tỷ lệ lạm phát đến tỷ suất sinh lời mà trong học thuật chưa có câu trả lời thống nhất.
Chính sách lãi suất và mục tiêu kiềm chế lạm phát Chính sách lãi suất của Việt Nam từ khi đổi mới (1988) đến nay đã có nhiều thay đổi: Từ chính sách lãi suất cố định giai đoạn 1988-1992, lãi suất trần cho vay và sàn lãi suất huy động có linh hoạt trong giai đoạn 1993- 2000, lãi suất cơ bản kèm biên độ dao động giai đoạn 2000-2001 với ngoại tệ và với nội tệ trong giai đoạn 2000- 2002, lãi suất thỏa thuận từ năm 2002 đến năm 20104. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay, với chính sách tiền tệ thắt chặt, chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã có những thay đổi theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn, khởi nguồn bằng chính sách lãi suất trần huy động theo Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/3/2011. Từ đó đến nay, việc áp dụng lãi suất trần huy động vẫn được thực hiện đối với tiền gửi huy động ngắn hạn (hiện nay áp dụng mức lãi suất huy động trần đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng).Ngoài ra NHNN còn áp dụng mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn của một số ngành, lĩnh vực ưu tiên5. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước vẫn đánh giá hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam chưa thực sự hoạt động trở lại bình thường, cần giám sát chặt chẽ để đảm bảo tính an toàn đồng thời thông qua hệ đó để thực thi một số mục tiêu của nền kinh tế.
Lãi suất chịu tác động bởi nhiều yếu tố, đồng thời sự chuyển động của lãi suất cũng có tác động ngược trở lại, cụ thể: Đối với doanh nghiệp sản xuất, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến đầu tư; đối với xã hội, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến chi tiêu và tiêu dùng và đối với nền kinh tế lãi suất sẽ tác động đến xuất khẩu ròng (Le, 2011). Đối với tổ chức tín dụng, những thay đổi trong lãi suất sẽ gây rủi ro cho hoạt động đầu tư của ngân hàng (Rose, 2001) ảnh hưởng đến giá trị tài sản “Có” là những khoản cho vay, đầu tư tài chính. Đối với QTDND, việc NHNN thay đổi mức lãi suất sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí đầu vào (lãi phải trả cho tiền gửi từ thành viên, lãi suất vay vốn điều hòa từ Ngân hàng Hợp tác xã,…) cũng như sẽ ảnh hưởng đến lãi suất đầu ra (lãi suất cho vay, 4 http://smartfinance.vn/chinh-sach-lai-suat-cua-viet-nam-hien-nay/ 5 Quyết định 2174/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư 08/2014/TT-NHNN ngày 17/03/2014 3 z lãi suất tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác,…). Tuy nhiên, ảnh hưởng và mức độ tác động của nó đến tỷ suất sinh lời của QTDND là chưa thể xác định được.
Hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân là một loại hình tổ chức tín dụng được thành lập trên cơ sở các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đồng thời là một loại hình hợp tác xã, do đó hoạt động chịu sự điều chỉnh một phần của Luật Hợp tác xã. QTDND được thành lập chủ yếu ở những vùng nông thôn, kinh tế còn khó khăn, mạng lưới của các ngân hàng thương mại ít với tới. QTDND hoạt động với mục đích tương trợ thành viên trong địa bàn, hoạt động chính là nghiệp vụ huy động vốn và cho vay. Hiện nay, QTDND có quy mô lớn nhất toàn quốc có tổng nguồn vốn hoạt động khoản 700 tỷ đồng, con số này là khá nhỏ bé so với nguồn vốn hoạt động của một ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống QTDND tại Việt Nam lại được đánh giá là mang lại hiệu quả không nhỏ cho xã hội, điều này thể hiện ở việc toàn hệ thống đã có gần 02 triệu thành viên; hoạt động của QTDND đã giải quyết, hỗ trợ cho rất nhiều thành viên ở những khu vực nông thôn tiếp cận một số dịch vụ ngân hàng, giải quyết nhu cầu vay vốn phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo thu nhập, công ăn việc làm; hạn chế nạn cho vay nặng lãi tại những khu vực mà hoạt động của các ngân hàng thương mại ít quan tâm đầu tư. Cũng như các loại hình tổ chức tín dụng khác, hoạt động của các QTDND cũng tìm ẩn những rủi ro khi chịu tác động từ các yếu tố của nền kinh tế, nguồn lực hoạt động của chính đơn vị. Việc nghiên cứu, đánh giá tác động của các nhân tố đến hoạt động của QTDND là rất cần thiết cho những người làm công tác quản trị, điều hành của chính tổ chức đó và điều này cũng là rất quan trọng đối với những người xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan đến QTDND. Kết quả các công trình nghiên cứu liên quan trước đây Có nhiều nghiên cứu cho thấy ngân hàng có vốn lớn thì tỷ suất sinh lời sẽ cao hơn ngân hàng có mức vốn thấp (Athanasolou, Brissimis and Delis, 2005).
Một số khác lại cho rằng, nguồn vốn của ngân hàng lại tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời (Hassan and Bashir, 2003). Huy động vốn tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng (Owoputi, Kayode and Adeyefa, 2014). Một nghiên cứu khác lại cho rằng huy động không có ý nghĩa, không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng 4 z (Ali, Akhtar and Ahmed, 2011). Chi phí hoạt động tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời (Mamatzakis and Remoundos, 2003).
Chi phí hoạt động không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời (Hassan and Bashir, 2003) và một số kết quả lại cho rằng chi phí hoạt động tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng (Mirzaei, 2011). Đa số các công trình nghiên cứu liên quan đến tác động của các nhân tố của nền kinh tế đến tỷ suất sinh lời ngân hàng đều có chung kết luận rằng việc tăng lãi suất thị trường sẽ làm tăng tỷ suất sinh lời (Molyneux and Thorton, 1992; Demirguc-Kunt and Huizinga, 2012), tuy nhiên, vẫn có những nghiên cứu lại đi đến kết luận trái ngược (Ayadi and Boujelbene, 2012).