Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy có nhiều nghiên cứu liên quan về mức độ CBTTTN cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên ở đây tác giả chỉ đi vào lược khảo một số nghiên cứu có liên quan trực diện đến nghiên cứu của tác giả.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Các nghiên cứu nước ngoài được tác giả lựa chọn lược khảo sau đây hầu hết là những nghiên cứu tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển tương tự như Việt Nam. Hơn thế nữa, các nghiên cứu này cũng được đăng trên các tạp chí uy tín và có số lượt trích dẫn khá cao. Cụ thể nghiên cứu của Barako (2007) đăng trên Tạp Chí QTKD châu Phi, tính đến nay có 144 lượt trích dẫn; Nghiên cứu Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kế toán Trung quốc, cũng đã có 19 lượt trích dẫn; Sweiti and Attayah (2013) được đăng trên Tạp chí quản trị và nghiên cứu tài chính kinh doanh toàn cầu; Juhmani (2013) được đăng trên Tạp chí kế toán và BCTC quốc tế; Silmi and M.
Adous (2014) được đăng trên Tạp Chí nghiên cứu tài chính kế toán. Barako (2007): “Determinants of voluntary disclosures in Kenyan companies annual reports”. Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính, đầu tiên là để kiểm tra mức độ CBTTTN qua các báo cáo thường niên của các công ty ở Kenya niêm yết trên sàn chứng khoán trong khoảng thời gian mười năm (1992 – 2001). Thứ hai, kiểm tra các yếu tố quyết định mức độ CBTT tự nguyện của các công ty này.
Với thông tin tự nguyện được chia làm 4 loại: thông tin chung và chiến lược, tài chính, hoạch định tương lai và thông tin xã hội. Các yêu tố được cho là quyết định đến mức độ CBTTTN tác giả chia làm 3 nhóm: Đặc điểm công ty, đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT), cấu trúc sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ CBTTTN còn thấp, mặc dù có cải thiện qua các năm. Trong đó, thông tin chung và chiến lược có mức độ công bố cao hơn các thông tin còn lại.
Kết quả cũng chỉ ra rằng các biến độc lập như cơ cấu ban lãnh đạo, quyền sở hữu nước ngoài, quyền sở hữu tổ chức và quy mô doanh nghiệp là rất quan trọng cho tất cả bốn loại thông tin công bố. Biến thành phần HĐQT có quan hệ tiêu cực với mức độ CBTTTN. Các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 biến ủy ban kiểm toán, quyền sở hữu tập trung và loại công ty kiểm toán độc lập không có ý nghĩa đối với thông tin hoạch định tương lai, có ý nghĩa với ba loại thông tin còn lại. Các biến thuộc thành phần (HĐQT), và lợi nhuận chỉ có ý nghĩa đối với hai loại thông tin tiết lộ.
Biến đòn bẩy tài chính và tính thanh khoản chỉ có ý nghĩa với mức độ CBTT hoạch định tương lai. Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) : “Determinants and features of voluntary disclosure in the Chinese stock market”. Bài viết này cung cấp các phân tích chuyên sâu về các yếu tố quyết định đến mức độ CBTTTN của các công ty niêm yết tại Trung Quốc. Với quy mô mẫu được các tác giả chọn là rất lớn, 80% công ty niêm yết trên hai sàn Thượng Hải và Thâm Quyến.
Dữ liệu được dùng cho nghiên cứu là báo cáo thường niên năm 2006 của các công ty này. Mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số CBTT với một danh sách rất quy mô là 119 khoản mục. Các biến độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Đòn bẩy, tài sản cố định, tính thanh khoản, loại công ty kiểm toán, ROE, quyền sở hữu khuếch tán, tỷ lệ HĐQT không điều hành, quyền sở hữu nhà nước, môi trường pháp lý, quy mô doanh nghiệp, chí phí vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản cố định, ROE, và quyền sở hữu khuếch tán có tác động tích cực lên CBTTTN.
Loại kiểm toán viên và môi trường pháp lý có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN. Chi phí vốn chủ sở hữu không có mối quan hệ với mức độ CBTTTN. Sweiti and Attayah (2013): Critical Factors Influencing Voluntary Disclosure: The Palestine Exchange “PEX”. Nghiên cứu này xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTTTN trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên PEX.
Nghiên cứu phân tích các công ty niêm yết tại Palestine Exchange “PEX”, mẫu được chọn là 48 công ty cho năm 2011, và 35 công ty cho năm 2007. Nghiên cứu xem xét mức độ mà các yếu tố quan trọng như tỷ lệ HĐQT không điều hành, ủy ban kiểm toán, quy mô hội đồng quản trị, hoạt động của hội đồng quản trị, số lượng cổ đông ảnh hưởng đến việc CBTTTN. Biến phụ thuộc là mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số công bố thông tin với danh sách các khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mục CBTT được phát triển bởi Meek et al. (1995), sau đó nó được đối chiếu với yêu cầu CBTT trên thị trường chứng khoán Palestine, và danh sách cuối cùng được thiết lập với 79 mục thông tin.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTTTN của các công ty này còn thấp, mặc dù có cải thiện từ 2007 so với 2011. Các phân tích cũng cho thấy những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiết lộ tự nguyện; tỷ lệ HĐQT không điều hành, quy mô hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, số lượng cổ đông. Yếu tố không ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của công ty là hoạt động của HĐQT. Juhmani (2013): “Ownership Structure and Corporate Voluntary Disclosure: Evidence from Bahrain”.
Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố và mức độ các tiết lộ thông tin tự nguyện của các công ty Bahrain niêm yết trên sàn chứng khoán BSE. Mẫu nghiễn cứu chính thức là 41 công ty niêm yết, dữ liệu được thu thập trên BCTN của các công ty này năm 2010. Để đo lường mức độ CBTTTN tác giả sử dụng một thủ tục phân đôi, trong đó mỗi mục tiết lộ trên danh sách kiểm tra được chỉ định nhận giá trị “1” nếu nó không được tiết lộ là “0”, danh sách các mục công bố thông tin tự nguyện gồm 34 khoản mục được xây dựng dựa trên Luật công ty Bahrain và IFRS. Các biến độc lập được tác giả đưa vào mô hình gồm: Quyền sở hữu của cổ đông không kiểm soát, quyền sở hữu của nhà quản lý, quyền sở hữu của nhà nước, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là thống kế mô tả, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến công CBTTTN là: Quyền sở hữu của cổ đông không kiểm soát, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính; các biến còn lại có ảnh hưởng không đáng kể đến CBTTTN. Adous (2014): “Factors Affecting the Level of Voluntary Accounting Disclosure on Annual Financial Statements: Applied Study on Jordanian Industrial Shareholding Companies”. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ CBTTTN trong các lĩnh vực công nghiệp cho các công ty niêm yết của Jordan, và kiểm tra một số yếu tố như: Quy mô công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ty, tuổi công ty, giá trị giao dịch (VT), đòn bẩy tài chính, thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), ROE, dòng tiền từ hoạt động (CFFO), cổ tức trên mỗi cổ phần (DPS) có tác động tới mức độ CBTTTN hay không.
Để đạt được nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một danh sách các chỉ số CBTTTN bao gồm 30 khoản mục được áp dụng. Mẫu nghiên cứu là 56 công ty cổ phần công nghiệp Jordan được niêm yết trên sàn chứng khoán Amman vào năm 2013. Kết quả cho thấy các công ty công nghiệp tiết lộ các thông tin kế toán tự nguyện ở mức độ còn thấp (46%), trong đó các ngành giấy và các tông là có mức độ CBTTTN cao nhất. Trong khi lĩnh vực in ấn và bao bì, là một trong những ngành công nghiệp tiết lộ ít nhất.
Kết quả cũng cho thấy ROE là yếu tố có ảnh hưởng tích cực nhất tới mức độ CBTTTN, và yếu tố VT, đòn bẩy tài chính cũng có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện. Trong khi đó EPS, DPS có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN, các yếu tố tuổi của công ty, dòng tiền hoạt động và quy mô của công ty không có ý nghĩa tương quan thống kê. Ngoài những nghiên cứu được lược khảo trên đây thì tác giả xin được cung cấp thêm bảng danh sách các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ CBTTTN. Danh sách này được thống kê bởi Shehata (2014) và được tác giả đính kèm phụ lục 01.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy các nghiên cứu trong nước về CBTTTN chưa nhiều, do vậy việc thống kê và lược khảo các nghiên cứu trước về CBTTTN tác giả cũng đã cố gắng tìm và chọn các bài được đăng trên các tạp chí uy tín như nghiên cứu của Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012) đăng trên Tạp chí Khoa học và Ứng dụng, Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế hay Võ Thị Thùy Trang & Nguyễn Công Phương (2015) đăng trên tạp chí Kinh doanh và Khoa học Xã hội quốc tế…Và một số Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ và công bố.
Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012): “CEO và tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết”. Nghiên cứu này, vận dụng số liệu của 135 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn GDCK TP.HCM năm 2010, nhằm xác định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mức độ CBTTTN và xác định các đặc điểm của CEO (Chief Executive Officer) có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của doanh nghiệp niêm yết trên sàn GDCK TP.HCM hay không. Kết quả phân tích cho thấy, mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp khá thấp. Các đặc điểm của CEO như tuổi, giới tính, bằng cấp, chuyên môn đều không có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN.
Từ kết quả phân tích trên, tác giả đưa ra một số kết luận về tình hình CBTTTN thực tế tại Việt Nam hiện nay. Nguyễn Thị Thu Hảo (2014): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE”.