Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp trên sàn upcom

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên doanh nghiệp Upcom.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.3. Khe hổng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện

2.1.1. Khái niệm công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện

2.1.2. Phương tiện công bố thông tin tự nguyện

2.1.3. Nội dung thông tin tự nguyện công bố trên TTCK

2.1.4. Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện

2.2. Những vấn đề chung về báo cáo thường niên

2.2.1. Khái niệm và mục đích của BCTN

2.2.2. Thời điểm lập và công bố BCTN

2.2.3. Nội dung cơ bản của BCTN

2.3. Các lý thuyết liên quan đến CBTT

2.3.1. Lý thuyết chi phí ủy nhiệm

2.3.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng

2.3.3. Lý thuyết chi phí sở hữu

2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Khung nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.3. Thiết kế nghiên cứu

3.3.1. Mô hình lý thuyết nghiên cứu

3.3.2. Phát triển giả thuyết nghiên cứu

3.3.3. Mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTN

3.6. Công cụ xử lý dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. Giới thiệu về sàn GDCK UPCoM

4.1.1. Sơ lược về sự ra đời và phát triển của sàn GDCK UPCoM

4.1.2. Vấn đề về công bố thông tin trên thị trường UPCoM

4.2. Mô tả mẫu nghiên cứu

4.3. Kết quả nghiên cứu định tính

4.4. Kết quả nghiên cứu định lượng

4.4.1. Thống kê mô tả

4.4.2. Kiểm định mô hình nghiên cứu

4.5. Bàn luận về kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về công bố thông tin tự nguyện trên sàn UPCoM

Công bố thông tin tự nguyện (CBTTTN) là một phần quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn UPCoM. Việc công bố thông tin không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch mà còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hợp (2016), CBTTTN còn giúp các công ty nâng cao giá trị thương hiệu và thu hút vốn đầu tư. Tuy nhiên, mức độ CBTTTN hiện nay vẫn còn hạn chế, điều này đặt ra nhiều câu hỏi về các nhân tố ảnh hưởng đến nó.

1.1. Khái niệm và vai trò của công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện là việc các doanh nghiệp chủ động cung cấp thông tin không bắt buộc theo quy định pháp luật. Vai trò của CBTTTN rất quan trọng trong việc tạo dựng lòng tin từ nhà đầu tư và nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán.

1.2. Tình hình công bố thông tin trên sàn UPCoM

Sàn UPCoM, với sự ra đời nhằm tạo điều kiện cho các công ty chưa niêm yết, đang gặp nhiều thách thức trong việc công bố thông tin. Mặc dù có nhiều quy định từ Bộ Tài chính, nhưng mức độ CBTTTN vẫn chưa đạt yêu cầu, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường.

II. Các thách thức trong công bố thông tin tự nguyện trên UPCoM

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc CBTTTN, nhưng các doanh nghiệp trên sàn UPCoM vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt thông tin, áp lực từ nhà đầu tư và các quy định pháp lý chưa hoàn thiện. Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hợp (2016), các công ty thường ngần ngại trong việc công bố thông tin do lo ngại về phản ứng của thị trường.

2.1. Thiếu hụt thông tin và kiến thức

Nhiều doanh nghiệp trên sàn UPCoM thiếu kiến thức về việc công bố thông tin tự nguyện. Điều này dẫn đến việc họ không biết cách thức và nội dung cần công bố, từ đó làm giảm tính minh bạch của thông tin.

2.2. Áp lực từ nhà đầu tư và thị trường

Nhà đầu tư thường có yêu cầu cao về thông tin, nhưng các doanh nghiệp lại lo ngại rằng việc công bố thông tin có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn, khiến cho việc CBTTTN trở nên khó khăn hơn.

III. Các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện

Nghiên cứu của Trịnh Thị Hợp (2016) đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM. Những nhân tố này bao gồm quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, và sự tham gia của hội đồng quản trị. Việc hiểu rõ các nhân tố này sẽ giúp các doanh nghiệp cải thiện mức độ công bố thông tin.

3.1. Quy mô công ty và mức độ công bố thông tin

Các công ty lớn thường có khả năng công bố thông tin tự nguyện cao hơn so với các công ty nhỏ. Điều này có thể do họ có nhiều nguồn lực hơn và áp lực từ nhà đầu tư cũng lớn hơn.

3.2. Cấu trúc sở hữu và ảnh hưởng đến CBTTTN

Cấu trúc sở hữu của công ty cũng ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN. Các công ty có nhiều cổ đông lớn thường có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu của các cổ đông này.

IV. Phương pháp nâng cao công bố thông tin tự nguyện

Để nâng cao mức độ CBTTTN, các doanh nghiệp trên sàn UPCoM cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Những phương pháp này bao gồm việc đào tạo nhân viên về công bố thông tin, cải thiện quy trình công bố và tăng cường sự tham gia của hội đồng quản trị. Theo Trịnh Thị Hợp (2016), việc này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

4.1. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Đào tạo nhân viên về công bố thông tin tự nguyện là rất cần thiết. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc công bố thông tin và cách thức thực hiện.

4.2. Cải thiện quy trình công bố thông tin

Cải thiện quy trình công bố thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư. Việc này bao gồm việc thiết lập các kênh thông tin rõ ràng và hiệu quả.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao mức độ CBTTTN có thể mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp trên sàn UPCoM. Các doanh nghiệp có mức độ công bố thông tin cao thường thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn và có giá trị cổ phiếu ổn định hơn. Theo Trịnh Thị Hợp (2016), việc này không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà còn cho cả nhà đầu tư.

5.1. Lợi ích từ việc nâng cao CBTTTN

Nâng cao mức độ CBTTTN giúp doanh nghiệp tạo dựng lòng tin từ nhà đầu tư, từ đó thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn. Điều này cũng giúp doanh nghiệp có thể phát triển bền vững hơn trong tương lai.

5.2. Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc công bố thông tin tự nguyện. Các khuyến nghị từ nghiên cứu sẽ giúp các doanh nghiệp có thể cải thiện mức độ CBTTTN của mình.

VI. Kết luận và tương lai của công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện trên sàn UPCoM đang là một vấn đề cần được quan tâm. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ các cơ quan quản lý, nhưng mức độ CBTTTN vẫn còn thấp. Tương lai của công bố thông tin tự nguyện phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý. Theo Trịnh Thị Hợp (2016), việc này sẽ giúp tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch và bền vững.

6.1. Tương lai của công bố thông tin tự nguyện

Tương lai của công bố thông tin tự nguyện trên sàn UPCoM sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức của các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của CBTTTN sẽ giúp cải thiện tình hình hiện tại.

6.2. Khuyến nghị cho các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần chủ động trong việc công bố thông tin tự nguyện. Việc này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp trên sàn upcom

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy có nhiều nghiên cứu liên quan về mức độ CBTTTN cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên ở đây tác giả chỉ đi vào lược khảo một số nghiên cứu có liên quan trực diện đến nghiên cứu của tác giả.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Các nghiên cứu nước ngoài được tác giả lựa chọn lược khảo sau đây hầu hết là những nghiên cứu tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển tương tự như Việt Nam. Hơn thế nữa, các nghiên cứu này cũng được đăng trên các tạp chí uy tín và có số lượt trích dẫn khá cao. Cụ thể nghiên cứu của Barako (2007) đăng trên Tạp Chí QTKD châu Phi, tính đến nay có 144 lượt trích dẫn; Nghiên cứu Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kế toán Trung quốc, cũng đã có 19 lượt trích dẫn; Sweiti and Attayah (2013) được đăng trên Tạp chí quản trị và nghiên cứu tài chính kinh doanh toàn cầu; Juhmani (2013) được đăng trên Tạp chí kế toán và BCTC quốc tế; Silmi and M.

Adous (2014) được đăng trên Tạp Chí nghiên cứu tài chính kế toán. Barako (2007): “Determinants of voluntary disclosures in Kenyan companies annual reports”. Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính, đầu tiên là để kiểm tra mức độ CBTTTN qua các báo cáo thường niên của các công ty ở Kenya niêm yết trên sàn chứng khoán trong khoảng thời gian mười năm (1992 – 2001). Thứ hai, kiểm tra các yếu tố quyết định mức độ CBTT tự nguyện của các công ty này.

Với thông tin tự nguyện được chia làm 4 loại: thông tin chung và chiến lược, tài chính, hoạch định tương lai và thông tin xã hội. Các yêu tố được cho là quyết định đến mức độ CBTTTN tác giả chia làm 3 nhóm: Đặc điểm công ty, đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT), cấu trúc sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ CBTTTN còn thấp, mặc dù có cải thiện qua các năm. Trong đó, thông tin chung và chiến lược có mức độ công bố cao hơn các thông tin còn lại.

Kết quả cũng chỉ ra rằng các biến độc lập như cơ cấu ban lãnh đạo, quyền sở hữu nước ngoài, quyền sở hữu tổ chức và quy mô doanh nghiệp là rất quan trọng cho tất cả bốn loại thông tin công bố. Biến thành phần HĐQT có quan hệ tiêu cực với mức độ CBTTTN. Các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 biến ủy ban kiểm toán, quyền sở hữu tập trung và loại công ty kiểm toán độc lập không có ý nghĩa đối với thông tin hoạch định tương lai, có ý nghĩa với ba loại thông tin còn lại. Các biến thuộc thành phần (HĐQT), và lợi nhuận chỉ có ý nghĩa đối với hai loại thông tin tiết lộ.

Biến đòn bẩy tài chính và tính thanh khoản chỉ có ý nghĩa với mức độ CBTT hoạch định tương lai. Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) : “Determinants and features of voluntary disclosure in the Chinese stock market”. Bài viết này cung cấp các phân tích chuyên sâu về các yếu tố quyết định đến mức độ CBTTTN của các công ty niêm yết tại Trung Quốc. Với quy mô mẫu được các tác giả chọn là rất lớn, 80% công ty niêm yết trên hai sàn Thượng Hải và Thâm Quyến.

Dữ liệu được dùng cho nghiên cứu là báo cáo thường niên năm 2006 của các công ty này. Mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số CBTT với một danh sách rất quy mô là 119 khoản mục. Các biến độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Đòn bẩy, tài sản cố định, tính thanh khoản, loại công ty kiểm toán, ROE, quyền sở hữu khuếch tán, tỷ lệ HĐQT không điều hành, quyền sở hữu nhà nước, môi trường pháp lý, quy mô doanh nghiệp, chí phí vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản cố định, ROE, và quyền sở hữu khuếch tán có tác động tích cực lên CBTTTN.

Loại kiểm toán viên và môi trường pháp lý có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN. Chi phí vốn chủ sở hữu không có mối quan hệ với mức độ CBTTTN. Sweiti and Attayah (2013): Critical Factors Influencing Voluntary Disclosure: The Palestine Exchange “PEX”. Nghiên cứu này xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTTTN trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên PEX.

Nghiên cứu phân tích các công ty niêm yết tại Palestine Exchange “PEX”, mẫu được chọn là 48 công ty cho năm 2011, và 35 công ty cho năm 2007. Nghiên cứu xem xét mức độ mà các yếu tố quan trọng như tỷ lệ HĐQT không điều hành, ủy ban kiểm toán, quy mô hội đồng quản trị, hoạt động của hội đồng quản trị, số lượng cổ đông ảnh hưởng đến việc CBTTTN. Biến phụ thuộc là mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số công bố thông tin với danh sách các khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mục CBTT được phát triển bởi Meek et al. (1995), sau đó nó được đối chiếu với yêu cầu CBTT trên thị trường chứng khoán Palestine, và danh sách cuối cùng được thiết lập với 79 mục thông tin.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTTTN của các công ty này còn thấp, mặc dù có cải thiện từ 2007 so với 2011. Các phân tích cũng cho thấy những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiết lộ tự nguyện; tỷ lệ HĐQT không điều hành, quy mô hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, số lượng cổ đông. Yếu tố không ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của công ty là hoạt động của HĐQT. Juhmani (2013): “Ownership Structure and Corporate Voluntary Disclosure: Evidence from Bahrain”.

Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố và mức độ các tiết lộ thông tin tự nguyện của các công ty Bahrain niêm yết trên sàn chứng khoán BSE. Mẫu nghiễn cứu chính thức là 41 công ty niêm yết, dữ liệu được thu thập trên BCTN của các công ty này năm 2010. Để đo lường mức độ CBTTTN tác giả sử dụng một thủ tục phân đôi, trong đó mỗi mục tiết lộ trên danh sách kiểm tra được chỉ định nhận giá trị “1” nếu nó không được tiết lộ là “0”, danh sách các mục công bố thông tin tự nguyện gồm 34 khoản mục được xây dựng dựa trên Luật công ty Bahrain và IFRS. Các biến độc lập được tác giả đưa vào mô hình gồm: Quyền sở hữu của cổ đông không kiểm soát, quyền sở hữu của nhà quản lý, quyền sở hữu của nhà nước, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là thống kế mô tả, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến công CBTTTN là: Quyền sở hữu của cổ đông không kiểm soát, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính; các biến còn lại có ảnh hưởng không đáng kể đến CBTTTN. Adous (2014): “Factors Affecting the Level of Voluntary Accounting Disclosure on Annual Financial Statements: Applied Study on Jordanian Industrial Shareholding Companies”. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ CBTTTN trong các lĩnh vực công nghiệp cho các công ty niêm yết của Jordan, và kiểm tra một số yếu tố như: Quy mô công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ty, tuổi công ty, giá trị giao dịch (VT), đòn bẩy tài chính, thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), ROE, dòng tiền từ hoạt động (CFFO), cổ tức trên mỗi cổ phần (DPS) có tác động tới mức độ CBTTTN hay không.

Để đạt được nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một danh sách các chỉ số CBTTTN bao gồm 30 khoản mục được áp dụng. Mẫu nghiên cứu là 56 công ty cổ phần công nghiệp Jordan được niêm yết trên sàn chứng khoán Amman vào năm 2013. Kết quả cho thấy các công ty công nghiệp tiết lộ các thông tin kế toán tự nguyện ở mức độ còn thấp (46%), trong đó các ngành giấy và các tông là có mức độ CBTTTN cao nhất. Trong khi lĩnh vực in ấn và bao bì, là một trong những ngành công nghiệp tiết lộ ít nhất.

Kết quả cũng cho thấy ROE là yếu tố có ảnh hưởng tích cực nhất tới mức độ CBTTTN, và yếu tố VT, đòn bẩy tài chính cũng có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện. Trong khi đó EPS, DPS có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN, các yếu tố tuổi của công ty, dòng tiền hoạt động và quy mô của công ty không có ý nghĩa tương quan thống kê. Ngoài những nghiên cứu được lược khảo trên đây thì tác giả xin được cung cấp thêm bảng danh sách các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ CBTTTN. Danh sách này được thống kê bởi Shehata (2014) và được tác giả đính kèm phụ lục 01.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy các nghiên cứu trong nước về CBTTTN chưa nhiều, do vậy việc thống kê và lược khảo các nghiên cứu trước về CBTTTN tác giả cũng đã cố gắng tìm và chọn các bài được đăng trên các tạp chí uy tín như nghiên cứu của Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012) đăng trên Tạp chí Khoa học và Ứng dụng, Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế hay Võ Thị Thùy Trang & Nguyễn Công Phương (2015) đăng trên tạp chí Kinh doanh và Khoa học Xã hội quốc tế…Và một số Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ và công bố.

Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012): “CEO và tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết”. Nghiên cứu này, vận dụng số liệu của 135 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn GDCK TP.HCM năm 2010, nhằm xác định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mức độ CBTTTN và xác định các đặc điểm của CEO (Chief Executive Officer) có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của doanh nghiệp niêm yết trên sàn GDCK TP.HCM hay không. Kết quả phân tích cho thấy, mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp khá thấp. Các đặc điểm của CEO như tuổi, giới tính, bằng cấp, chuyên môn đều không có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN.

Từ kết quả phân tích trên, tác giả đưa ra một số kết luận về tình hình CBTTTN thực tế tại Việt Nam hiện nay. Nguyễn Thị Thu Hảo (2014): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ