CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Các nghiên cứu trước đây 1. Nghiên cứu trên thế giới Năm 1935 Haig là người đầu tiên nghiên cứu về chi phí tuân thủ thuế là “chi phí ẩn của thuế”, cố gắng đo lường chi phí tuân thủ thuế. Từ đó đến nay, đây là vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu học thuật và của các chính phủ vì nó là một trong những yếu tố ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến nền kinh tế của một quốc gia.
Năm 1973 Sandford đã nêu lên vấn đề chi phí tuân thủ thuế này là “chi phí ẩn của thuế”, từ đó chi phí này được nghiên cứu mạnh mẽ. Hơn 100 nghiên cứu về chi phí tuân thủ hoặc chi phí hành chính được công bố từ nghiên cứu hiện đại đầu tiên của Haig (1935) tại Hoa Kỳ và hơn 60 nghiên cứu đã được thực hiện từ năm 1980. Nghiên cứu hiện nay đã được thực hiện tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi và các nước đang phát triển; đã sử dụng hầu hết các phương pháp nghiên cứu có sẵn và bao trùm toàn bộ các loại thuế và vấn đề thuế. Năm 1986, Jackson và Milliron đã thực hiện tổng hợp toàn diện về lý thuyết tuân thủ thuế và xác định 14 nhân tố chính đã được các nhà nghiên cứu trước đó phát hiện có tác động đến hành vi tuân thủ thuế.
Những nhân tố này đã được Fischer và cộng sự tổng hợp thành 4 nhóm nhân tố trong mô hình mở rộng cảu Fischer gồm các nhân tố tác động đến cơ hội không tuân thủ, quan điểm và nhận thức của NNT, các nhân tố liên quan đến hệ thống thuế và nhân tố nhân khẩu học. Mô hình cũng cung cấp khuôn khổ để hiểu tác động những nhân tố kinh tế xã hội và tâm lý học đến quyết định tuân thủ thuế của NNT. Như nghiên cứu của Slemrod và Blumenthal (1996), Erard (1997), Slemrod và Venkatesh (2002) chỉ ra mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp với chi phí tuân thủ thuế TNDN. 8 Một số nghiên cứu từ các quốc gia: Brazil (Bertolucci, 2002), Ấn Độ (Chattopadhyay và Das-Gupta, 2002), OECD (Cordova-Novion và De-Young, 2001) và Ủy ban Châu Âu (2004) nghiên cứu việc so sánh chi phí thuế giữa các quốc gia và các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sau: + Chi phí tuân thủ thuế liên quan đến các loại thuế khác nhau, đối tượng nghiên cứu được khảo sát là các doanh nghiệp, cũng có một số ít nghiên cứu là các cá nhân… + Các nghiên cứu chia mục tiêu nghiên cứu là các DN nhỏ, các DN lớn nhưng không phân chia các ngành nghề khác nhau + Nghiên cứu tìm hiểu các chi phí phát sinh từ DN, xem xét đến chi phí thuê chuyên gia, tư vấn là một trong những chi phí quan trọng của chi phí tuân thủ thuế phát sinh khi người nộp thuế là DN và không phải DN.
Theo Evans (2003) mặc dù mục đích nghiên cứu khác nhau, thành phần của chi phí tuân thủ được phân tích khác nhau về những loại thuế khác nhau nhưng tất cả các công trình đều cho thấy rằng: Chi phí tuân thủ thuế có ý nghĩa thống kê, Chi phí tuân thủ thuế có tính hồi quy (theo từng loại thuế khác nhau, từng quy mô doanh nghiệp khác nhau, Chi phí tuân thủ thuế không phải lúc nào cũng giảm. Das-Gupta (2003) nghiên cứu về chi phí tuân thủ thuế thu nhập ở Ấn Độ trong bài nghiên cứu “The Income Tax Compliance Costs of Corporation in India, 2000-2001” đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí tuân thủ thuế ở Ấn Độ bao gồm: Các thông tin cung cấp cho việc kê khai chi tiết; Lưu trữ sổ sách kế toán; Hoàn thành và nộp tờ khai thuế thu nhập; Hoàn thành và nộp tờ khai thuế khấu trừ; Hoàn thuế; Nghiên cứu và lên kế hoạch nộp thuế; Khóa đào tạo liên quan đến thuế cho nhân viên; Cung cấp các trợ giúp cho nhân viên. Một nghiên cứu khác của Business New Zealand – KPMG (2003) trong cuộc khảo sát “First Compliance Cost Survey” cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến chi phí tuân thủ thuế ở New Zealand như: Khoản tạm nộp không phù hợp với dòng 9 tiền; Không xem xét đến lịch sử tuân thủ tốt; Phạt và tính lãi; Khó có thông tin và trợ giúp; Buộc phải thuê kế toán; Quá nhiều thông tin. Cũng đáng nói đến là nghiên cứu của KPMG (2006) về gánh nặng hành chính của Vương quốc Anh.
Bằng cách áp dụng phương pháp Mô hình chi phí chuẩn (SCM, 2005), nó đã được chứng minh rằng gánh nặng hành chính theo quy định thuế của Anh lên đến 5.1 tỷ bảng Anh. Trong số tiền này, khoảng 12% được quy cho thuế thu nhập doanh nghiệp. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tính chất hồi quy của các chi phí tuân thủ thuế. Các nghiên cứu chi phí tuân thủ thuế khác như Sở Thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) đã phát triển các mô hình khác nhau để ước tính và dự báo chi phí tuân thủ áp đặt bởi hệ thống thuế đối với NNT (Contos, Guyton, Langetieg, & Nelson, 2009; Contos, Guyton, Langetieg, Lerman , & Nelson, 2012; Guyton, O'Hare, Stavrianos, & Toder, 2003).
Các kết quả được công bố hàng năm và ước tính chi phí tuân thủ thuế thu nhập trung bình cho mỗi NNT là từ $ 3.900, tùy thuộc vào hình thức pháp lý và quy mô của công ty được kháo sát. Trong bài nghiên cứu của tác giả Nakiwala (2010) đã cho thấy mối quan hệ giữa năng lực thuế với tính tuân thủ thuế, chi phí tuân thủ với tính tuân thủ thuế và hành vi, năng lực thuế của DN với chi phí tuân thủ ở các DN vừa và nhỏ. Cụ thể, nếu DN có năng lực thuế tốt, hiểu rõ về quy định, chính sách thuế, họ sẽ tuân thủ thuế tốt hơn; khi năng lực thuế của DN tốt sẽ giúp tối ưu hóa chi phí tuân thủ thuế của họ và khi DN có chi phí tuân thủ thuế thấp, họ mới có xu hướng tuân thủ thuế tốt hơn là khi họ có chi phí tuân thủ cao. Tuy nhiên, với hạn chế về phạm vi khảo sát chỉ là các DN vừa và nhỏ vì vậy mà bài nghiên cứu chưa có tính tổng quát và tổng thể cao mà cần nghiên cứu thêm ở các DN với quy mô khác nhau.
Trong nghiên cứu của Eichfelder và Kegels (2012) đã chỉ ra rằng chi phí tuân thủ của NNT tư nhân không chỉ bị ảnh hưởng bởi pháp luật thuế, quy định, chính sách thuế mà còn bị ảnh hưởng thông qua việc quản lý thuế của cơ quan thuế. Tuy nhiên, các quy định thuế có ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ đến chi phí tuân thủ của 10 DN và quản lý thuế cũng ảnh hưởng làm tăng chi phí tuân thủ thuế của DN. Trong đó, nếu quản lý thuế không tốt đã làm tăng gánh nặng chi phí tuân thủ thuế của DN lên khoảng 25%. Trong một nghiên cứu ở Nam Phi, Smulders (2013) thấy rằng hình thức pháp lý của DN, doanh thu cũng như trình độ học vấn và kiến thức kế toán của người chịu trách nhiệm về thủ tục tuân thủ thuế, là yếu tố quyết định đáng kể chi phí tuân thủ thuế thu nhập nội bộ.
Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây cũng xác nhận tầm quan trọng của chi phí tuân thủ thuế cả về quy mô và tính chất hồi quy của chúng. Evans et al. (2014), trong một nghiên cứu so sánh được tiến hành ở bốn quốc gia, thấy rằng chi phí tuân thủ cho các doanh nghiệp nhỏ tiếp tục cao và hồi quy ở Úc, Canada, Nam Phi và Vương quốc Anh. Họ tiếp tục nghiên cứu các lợi ích quản lý của việc tuân thủ thuế cũng như hiệu quả của các chế độ đãi ngộ kinh doanh nhỏ khác nhau đối với mục tiêu giảm gánh nặng hành chính.
Lignier, Evans và TranNam (2014) đã kết luận rằng quy mô doanh nghiệp và số loại thuế mà công ty phải báo cáo dường như là yếu tố quyết định đáng kể chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, họ không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa hình thức pháp lý của công ty và chi phí tuân thủ thuế của công ty. Cuối cùng, Evans và cộng sự (2016) trong một nghiên cứu tập trung hoàn toàn vào các tập đoàn lớn ở Úc, kết luận rằng quy mô và số lượng thực thể trong tổng doanh nghiệp là những dự báo mạnh mẽ về chi phí tuân thủ thuế. Phù hợp với nghiên cứu trước đây, họ cũng xác nhận rằng mặc dù chi phí tuân thủ thuế tăng lên khi quy mô của công ty tăng lên.
Hơn nữa, họ đã xác nhận mối liên hệ tích cực có ý nghĩa thống kê giữa chi phí tuân thủ thuế và số thuế mà công ty phải chịu. Các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng cách thức công ty được phân loại dựa trên khả năng không tuân thủ và hậu quả của sự không tuân thủ là yếu tố quyết định chi phí tuân thủ thuế của nó. Nghiên cứu thực nghiệm “Chi phí tuân thủ thuế TNDN và những nhân tố ảnh hưởng: Bằng chứng tại Hy Lạp” của Ioannis Stamatopoulos, Stamatina Hadjidema 11 và Konstantinos Eleftherious (12.2016) đã nghiên cứu, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí tuân thủ thuế TNDN tại Hy Lạp. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đưa ra 9 giả thuyết từ H1 đến H9 định lượng của các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí tuân thủ thuế TNDN của các DN tại Hy Lạp với dữ liệu được khảo sát trong năm 2013 và chỉ ra rằng chi phí tuân thủ thuế TNDN sẽ khác nhau với đặc điểm riêng biệt của các DN khác nhau.
Cụ thể, tác giả đưa ra giả thuyết H1 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ đến quy mô DN, H2 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ ngược chiều với tính tuân thủ luật thuế TNDN của DN, H3 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ ngược chiều với số lượng nhân viên, H4 - Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ thuận chiều với sự mở rộng hoạt động của DN, H5 - Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ với lĩnh vực mà DN hoạt động, H6 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ với vị trí mà DN hoạt động, H7 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ với loại hình hoạt động của DN, H8 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ thuận chiều với hoạt động xuất khẩu của DN, H9 – Chi phí tuân thủ thuế TNDN có quan hệ ngược chiều với việc sử dụng phần mềm kê khai thuế TNDN.