Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tổng quan về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại Cấu trúc vốn là thành phần và tỷ trọng của từng nguồn vốn so với tổng vốn tại một thời điểm nhất định.
Một cấu trúc vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp hài hòa của các nguồn vốn riêng biệt trong điều kiện nhất định. Công ty có cấu trúc vốn hợp lý thì chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro ở mức có thể chấp nhận được (Bùi Văn Vần, 2013). Cấu trúc vốn của mỗi công ty phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: đặc điểm riêng của công ty, đặc điểm ngành nghề mà công ty hoạt động, đặc điểm của thị trường tài chính, điều kiện kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia,v.v… Bên cạnh yếu tố chung công ty còn có yếu tố riêng, nên không có cấu trúc vốn chung cho mọi công ty. Mỗi công ty sẽ có một cấu trúc vốn riêng, thậm chí trong cùng một công ty cấu trúc vốn thay đổi trong từng giai đoạn cụ thể.
Vì vậy khi nghiên cứu cấu trúc vốn của một công ty phải nghiên cứu trong trạng thái động, chứ không thể nghiên cứu trong trạng thái tĩnh. Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Như vậy có thể hiểu ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận (TS.Lê Thị Tuyết Hoa, 2009). Như vậy, qua khái niệm cơ bản, ta có thể đúc kết lại một số đặc trưng chủ yếu về ngân hàng thương mại như sau (Trần Huy Hoàng, 2011): Thứ nhất, ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp.
Thật vậy, ngân hàng thương mại tồn tại mang theo những đặc trưng vốn có của doanh nghiệp: mục đích để nó ra đời là vì kinh doanh, hoạt động là vì lợi nhuận. Thêm vào đó, nó cũng có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp hiện hữu, cũng tự chủ về tài chính và cũng phải 7 có nghĩa vụ đóng thuế cho ngân sách nhà nước. Hơn nữa, cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại cũng mang đôi nét tương đồng như các doanh nghiệp khác. Thứ hai, tuy mang màu sắc là một loại hình doanh nghiệp nhưng ngân hàng thương mại lại có một sắc thái riêng – “một doanh nghiệp đặc biệt”.
Trên thực tế, rõ ràng là nét đặc biệt của ngân hàng thể hiện ở lĩnh vực kinh doanh là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Cũng là một doanh nghiệp nhưng nguồn vốn chủ yếu mà các ngân hàng sử dụng trong kinh doanh lại là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi vốn riêng có của ngân hàng thì lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động. Thêm vào đó, trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ lệ không lớn, mà chủ yếu là tài sản vô hình. Và một điểm vô cùng quan trọng là hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
Chính vì những lý lẽ đó mà dường như ngân hàng thương mại hiện hữu như là một hình thức doanh nghiệp đặc biệt và thường được loại ra khỏi mẫu nghiên cứu của các công trình thực nghiệm về cấu trúc vốn của các công ty phi tài chính.Thứ ba, ngân hàng thương mại còn được xem như là một kênh trung gian tài chính khá năng động. Quả thực, nó đóng vai trò như là một tổ chức trung gian với chức năng tập trung, huy động các nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời, và rồi chuyển chúng đến những nơi thiếu và cần vốn. Vô hình trung, ngân hàng thương mại đã trở thành một mắc xích quan trọng không thể nào thiếu được trong sợi dây kết nối vận hành vòng quay sản xuất hoạt động kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế. Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Cấu trúc vốn của NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Cấu trúc vốn của ngân hàng cho biết mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của nguồn vốn huy động. 8 Cấu trúc vốn có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực thi các chiến lược kinh doanh, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Vì vậy mục tiêu của ngân hàng là hướng đến một cấu trúc vốn tối ưu mà ở đó chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị ngân hàng là lớn nhất. Các thành phần cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại Các thành phần cấu trúc vốn bao gồm: *Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu hay vốn tự có của NHTM là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh. Vốn tự có của ngân hàng được hình thành căn cứ vào hình thức tổ chức của ngân hàng thương mại là: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần hay ngân hàng thương mại liên doanh. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung.
+ Vốn tự có cơ bản là vốn điều lệ. Đây là số vốn của ngân hàng phải có để đi vào hoạt động và được ghi vào điều lệ. Tùy theo loại hình ngân hàng mà nó được hình thành từ những nguồn khác nhau: cụ thể đối với ngân hàng thương mại cổ phần là do cổ đông góp vốn được tính theo mệnh giá cổ phiếu. Là lĩnh vực kinh doanh có ngành nghề, do vậy vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do ngân hàng trưng ương quy định (Trầm Thị Xuân Hương&Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011).
+ Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và các quỹ như: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác. Nguồn nội bộ (nguồn từ lợi nhuận): Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy từ lợi nhuận và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm có thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao hơn với vốn của chủ hình thành ban đầu.
Các quỹ: 9 + Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là quỹ được dùng với mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu. Lợi nhuận hàng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn tự có thì sẽ chuyển thành vốn tự có. + Quỹ dự trữ đặc biệt: Là quỹ dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình kinh doanh nhằm bảo toàn vốn. + Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận chưa phân phối, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định.
Các quỹ trên thuộc sở hữu của ngân hàng. Nguồn hình thành là từ thu nhập của ngân hàng thương mại mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. Vốn chủ sở hữu của một ngân hàng thương mại đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát triển lâu dài. Vốn đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản, vốn là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi nó có thể huy động được những khoản tiền gửi đầu tiên, vốn tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với chủ nợ (gồm cả người gửi tiền) về sức mạnh tài chính của ngân hàng, vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới.
Cuối cùng, vốn được xem như một phương tiện điều tiết sự tăng trưởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của một ngân hàng có thể được duy trì, ổn định và lâu dài. Cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và của các danh mục tài sản rủi ro khác. *Nợ của NHTM bao gồm (Trầm Thị Xuân Hương&Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011): + Vay của ngân hàng trung ương: Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được ngân hàng trung ương cấp phép hoạt động đều được vay vốn tại ngân hàng 10 trung ương trong trường hợp cần bổ sung vốn khả dụng theo hạn mức tín dụng được cấp. Ngân hàng trung ương cho ngân hàng thương mại vay vốn dưới hình thức tái cấp vốn như: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giầy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giầy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay bổ sung vốn trong thanh toán bù trừ; cho vay đặc biệt khi ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán có nguy cơ mất an toàn hệ thống.
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng của ngân hàng trung ương đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.