Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Chương 2: Thực trạng triển khai bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án vành đai 2 tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất CHUONG 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1. Téng quan về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1. Thu hồi đất Căn cứ khoản 11, Điều 3 Luật DD 2013 quy định: “Nhà nước thu hôi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyên su dụng dat của người được Nhà nước trao quyên sử dung đất hoặc thu lai đất của người sử dụng dat vi phạm pháp luật về đất dai.
Sự cần thiết của công tác bôi thường, hồ trợ và tái định cw”. Các trường hợp THD: Theo Khoản 1, Điều 16 Luật DD 2013; NN quyết định THD với những trường hợp dưới day: “Thu hôi đất vì mục dich quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế — xã hội vi lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất dai; Thu hồi dat do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. ” Tham quyền thu hồi dat: Căn cứ Điều 66, Luật DD 2013; thâm quyền THD được quy định như sau: “Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định thu hôi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đát đôi với tô chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tô chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đát ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Thu hôi đất nông nghiệp thuộc quỹ dat công ích của xã, phường, thị tran. UBND cấp huyện quyết định thu hôi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, ca nhân, cộng đồng dân cu; Thu hồi đát ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
10 Trường hợp trong khu vực thu hồi dat có ca đối tượng thuộc thẩm quyền thu hôi đất của UBND cấp tỉnh và cấp huyện thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hôi đất hoặc uy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hôi dat.Giải phóng mặt bằng GPMB là quá trình thực hiện việc di dời các công trình XD, nhà cửa, cây cối và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc XD một công trình mới. GPMB là bước cơ bản va bắt buộc phải có khi NN triển khai các chính sách phát triển KT, XH, an ninh, quốc phòng,. Chính vì vậy việc năm rõ quy trình về GPMB sẽ giúp cho người bị thu hồi đất và cơ quan NN có thắm quyền thực hiện theo luật đã được quy định.Bồi thường Theo khoản 2 điều 42 Luật DD 2003: “Boi thudng khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại gid trị quyên sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hôi cho người bị thu hôi đất ”. Theo khoản 12 Điều 3 Luật DD 2013 quy định: “Bồi thường về dat là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người su dụng đât ”.H6 trợ khi nhà nước thu hồi đất Căn cứ khoản 7, Điều 4, Luật DD 2003 quy định: “H6 tra khi Nhà nước thu hôi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hôi đất thông qua đào tạo nghệ mới, bồ trí việc làm mới, cấp kinh phí dé di dời đến địa điểm moi”.
Căn cứ khoản 14 Điều 3 Luật DD 2013 quy định: “H6 tro khi Nhà nước thu hồi dat là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hôi để ổn định đời sống, san xuất và phát triên ”. Tái định cư Thuật ngữ TDC được pháp luật DD đề cập đến tuy nhiên vẫn chưa có quy định cụ thé nao giải thích khái niệm nay. Theo khoản 1 Điều 86 Luật DD 2013 quy định: “76 chức làm nhiệm vụ boi thường, giải phóng mặt bằng được Uy ban nhân dân cấp tỉnh, Uy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung 11 của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tai định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyên phê duyệt phương án bó trí tái định cư. Nội dung thông bdo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô dat, căn hộ, giá dat, giá nhà tai định cư; dự kiến bố trí tai định cư cho người có đất thu hoi”.
` Assy Từ quy định trên chúng ta có thể hiểu: TĐC là những chính sách, cơ chế của NN được thực hiện thông qua các hoạt động nhằm giúp người dân nằm trong điện THD phải đi dời có cuộc sống ôn định, đảm bảo ổn định cả đời sống sinh hoạt và 6n định SX. Điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ TĐC: Các trường hợp được hỗ trợ TDC theo quy định tại (Điều 79 Luật DD 2013) và (Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP) như sau: “Trường hợp thu hôi hết đất ở hoặc phân diện tích đất ở còn lại sau thu hoi không au điều kiện dé ở mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị tran nơi có đất ở thu hoi Trường hợp hộ gia đình có nhiều thé hệ, nhiều cặp vợ chong cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ diéu kiện dé tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyên sử dụng một thửa đất ở thu hi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào quỹ dat ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tải định cư cho từng hộ gia đình. Sự cần thiết của công tác bôi thường, hỗ trợ và tai định cư 1.Mục đích Đề thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, nền kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là các DA phát triển theo hướng CNH — HĐH thì đất đai là một phan không thé thiếu. Dé quá trình THD diễn ra suôn sẻ, đúng tiến độ NN cần đảm bảo thực hiện BTHT cho người có đất bị thu hôi.
Thực tế việc BT, HT và TDC hiện nay cần đảm bảo về cả vật chất và chỗ ở cho người bị thu hồi đất. Chính vì vậy, mục đích chủ yếu của công tác BT, HT va TDC là: 12 Bảo đảm BT đúng với diện tích đất bị thu hồi, tài sản trên đất bị thiệt hại. Ngoài ra cần đảm bảo tiền BTHT sát với TT BĐS, tránh trường hợp người dân phản đối. Với những trường hợp bi THD thuộc diện TDC cần đảm bảo chỗ ở mới phải ồn định, có điều kiện sống không kém hơn chỗ cũ.
Ngoài ra cần dam bảo ôn định đời sông, việc làm, SX cho người dân dé có thé đảm bảo cuộc sông. Ý nghĩa THD vừa làm cham dứt quan hệ pháp luật về đất đai, vừa “đụng chạm” đến lợi ích của các bên có liên quan bao gồm người bị THĐ, NN và người hưởng lợi từ THD. Như vậy có thé coi các van đề được giải quyết liên quan đến THD là giải quyết hài hoà về mặt lợi ích KT giữa các bên. Các vấn đề BT, HT và TDC khi NN THD được giải quyết tốt có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện: Phương diện chính trị: Các vấn đề BT, HT và TĐC được giải quyết tốt đồng nghĩa với việc NN đã thực hiện tốt các cơ chế, chính sách giúp KT - XH phát triển, góp phần củng cố và duy trì sự 6n định chính trị và đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên liên quan trong quá trình THD.
Phương diện KT - XH: Khi các chính sách BTHT được dam bảo thực hiện tốt sẽ giúp người dân nhanh chóng 6n định cuộc sông và các nhà dau tư có mặt băng sớm nhất có thể dé thực hiện DA. Điều này sẽ giúp cả KT va XH được phát triển bền vững hơn. Dac điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dé một DA diễn ra đúng tiến độ dé ra thì NN cần giúp chủ đầu tư có thé GPMB nhanh nhất có dé. Đó là công việc vô cùng quan trong nhưng nó cũng rất phức tạp cũng như tốn kém thời gian, chủ yếu do công tác BTHT.
Do TT BĐS phát triển nhanh ở nhiều địa phương nên lượng DD sẵn có giá trị ngày càng tăng và khan hiếm hơn. Ngoài ra do công tác BT, HT va TDC ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều bên trên một khu vực nên nó mang một số đặc điểm dưới đây. - Tính đa dạng: Do các DA được thực hiện trên những khu vực khác nhau với các điều kiện về tự nhiên, KT - XH và trình độ dân trí khác nhau chính vì vậy nó mang đến sự đa dạng rất lớn trong quá trình GPMB. Chính vì lý do này mà quá trình BT, HT và TDC cũng mang đặc điểm rất đa dạng, như giá đất BT 13 tại các địa phương các nhau, các khu vực khác nhau của cùng một địa phương cũng khác nhau.
Chính vì vậy dẫn đến nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện GPMB của các cán bộ chuyên trách, đòi hỏi họ cần có năng lực và chuyên môn cao đề thực hiện tốt các nhiệm vụ. - Tính phức tạp: Ở nông thôn, người dân sống chủ yếu dựa vào hoạt động SX nông nghiệp, việc chuyền đổi nghề còn nhiều vướng mắc cùng với tâm lý của người dân đã quen với công việc làm nông, muốn giữ đất dé tiếp tục canh tác, SX. Chính vì lý do đó đã khiến việc tuyên truyền, vận động người giao dat cho NN gặp rất nhiều khó khăn và rất cần HT người dân chuyên nghề nghiệp đảm dam bảo cuộc sông 6n định trong tương lai. Ở đô thị, việc BT, HT và TDC khi NN THD lại gặp nhiều khó khăn hon do đất ở khi vực đô thị thường có giá trị cao, trong khi mọi người luôn có tâm lý không muốn di chuyên chỗ ở.