CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI HOÀN CHI PHÍ ĐÀO TẠO VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI HOÀN CHI PHÍ ĐÀO TẠO TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm về bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động: 1. Khái niệm về bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động Bồi hoàn là một khái niệm rất ít khi được nhắc đến trong đời sống xã hội nên đây là một khái niệm còn khá mới. Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam thì bồi hoàn là “trả lại những thứ đã lấy đi hoặc đã làm thiệt hại cho người ta”1.
Với định nghĩa này, thì bồi hoàn được xem như là một thuật ngữ có nghĩa gần như tương đồng với bồi thường “trả lại cho người khác cái có giá trị (thường bằng tiền) tương xứng với thiệt hại mà mình gây ra”2. Trong Khoa học pháp lý, bồi hoàn được hiểu là “Việc cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật, hoặc hành vi gây thiệt hại phải trả số tiền theo quy định của pháp luật để nộp phạt hoặc bồi thường thiệt hại”3. Theo Luật học, căn cứ vào Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 không tồn tại chế định về bồi hoàn, mà thay vào đó là thuật ngữ bồi thường thiệt hại mang ý nghĩa tương đương với bồi hoàn, được quy định tại Khoản 1 Điều 584 “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. 1 Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam.Hồ Chí Minh.157 2 Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam.Hồ Chí Minh.157 3 (1999), Từ điển Luật học, Nxb.
Bách Khoa, tr.58 8 Xét về ngữ nghĩa, bồi thường là sự thể hiện việc một chủ thể khi có hành vi gây ra thiệt hại thì phải trả lại những lợi ích tương xứng cho bên bị vi phạm. Trong khi đó, bồi hoàn (hay còn gọi là reimburse) thể hiện việc trả lại lợi ích tương xứng cho người khác, không chỉ nằm mục đích về bồi thường thiệt hại mà trong một vài trường hợp nhất định nó sẽ được xem như một khoản phạt, hoàn trả cho chi phí hoặc tổn thất phát sinh. Dưới góc độ pháp lý, có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề bồi thường thiệt hại. Có quan điểm cho rằng “Mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến lợi ích chung của người khác.
Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại”4.Có quan điểm lại cho rằng “Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản, áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại”5. Với nhiều cách hiểu như trên về khái niệm bồi thường thiệt hại có thể thấy rằng bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm pháp lý được áp dụng cho một hoặc nhiều chủ thể trong quan hệ dân sự. Về nguyên tắc, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả gây ra nhằm loại bỏ sự tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân, đồng thời xác lập trách nhiệm của một chủ thể đối với hành vi của mình trước quyền và lợi ích hợp pháp của một chủ thể khác trong xã hội.
4 Nguyễn Minh Oanh (2009), “Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại, vấn đề lý luận và thực tiễn”. 5 Xem tại https://hongtquang.com/2011/06/18/một-số-vấn-dề-về-chế-dịnh-bồi-thường- thiệt-hại-trong-linh-vực-shtt/ truy cập ngày 09/11/2022. 9 Trong đời sống xã hội, quan hệ lao động cũng là một quan hệ dân sự. Do đó tương tự trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được áp dụng đối với chủ thể có hành vi gây thiệt hại trong quá trình thực hiện quan hệ lao động.
Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật đó mà không phải là chủ thể khác. Qua đó, có thể thấy khi tham gia vào một quan hệ lao động, các chủ thể sẽ tiến hành giao kết về hợp đồng lao động, trong đó các bên có quyền đưa ra các yêu cầu của mình để từ đó thỏa thuận về các nội dung trong hợp đồng lao động theo khuôn khổ và các quy định của pháp luật. Sau khi giao kết thì hợp đồng lao động có hiệu lực thì các bên phải tiến hành thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng, và phải tuân theo những quy định của pháp luật. Với một hợp đồng thông thường, phương thức đơn giản nhất để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng6, vậy nên HĐLĐ cũng không phải ngoại lệ, nếu như sau khi giao kết hợp đồng, các bên thiết lập quyền, nghĩa vụ để ràng buộc lẫn nhau và đem lại lợi ích cho cả hai bên cùng mong muốn, thì chấm dứt HĐLĐ lại là một sự kiện pháp lý cuối cùng để các bên đi đến chấm dứt quan hệ lao động bằng chính hợp đồng đã cùng thiết lập7.
Việc bồi hoàn chi phí đào tạo phát sinh khi NSDLĐ bỏ ra một khoản chi phí để đưa NLĐ đi đào tạo và sau đó NLĐ không thực hiện đúng những gì đã cam kết trong hợp đồng lao động đã có hiệu lực trước đó và phải chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, gây thiệt hại cho NSDLĐ. Khi đó, pháp luật sẽ có những biện pháp chế tài cho bên vi phạm hợp đồng, NLĐ sẽ phải bồi thường thiệt hại do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng. đặc biệt, phải bồi thường về chi phí đào tạo nếu NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, vi phạm về thời gian cam kết làm việc cho doanh nghiệp sau khi tham gia bồi dưỡng, đào tạo nâng cao tay nghề. 6 Nguyễn Ngọc Đào -1994, Luật La Mã- Khoa Luật Đại học tổng hợp- Trang 105 7 Nguyễn Thị Hoa Tâm 2012, “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”- Tạp chí nhà nước và pháp luật 02- trang 47.
10 Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể về “bồi hoàn chi phí đào tạo”, dựa trên những nghiên cứu về chế định pháp lý liên quan đến bồi thường và về vấn đề đào tạo, theo tác giả, có thể hiểu: “Bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quan hệ lao động, quy định nghĩa vụ của NLĐ phải hoàn trả những lợi ích vật chất nhất định cho NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt về HĐLĐ, vi phạm thỏa thuận về cam kết thời gian làm việc cho NSDLĐ được thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết trước đó, gây thiệt hại về vật chất cho NSDLĐ”. Thiết nghĩ, đây là một chế định cần thiết nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ lao động liên quan đến vấn đề đào tạo. Với cách tiếp cận này, cơ chế bồi hoàn chi phí đào tạo trong pháp luật lao động cần được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, cũng như đi sâu hơn vào vấn đề để có những đánh giá sâu sắc, toàn diện hơn, từ đó đặt ra những giới hạn cho NLĐ trong việc làm thế nào để thực hiện đúng, đầy đủ cam kết cũng như đúng theo quy định của pháp luật đối với chế định này. Đặc điểm của bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động: Là một loại trách nhiệm pháp lý nên bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động mang đầy đủ đặc điểm của một trách nhiệm pháp lý như: loại trách nhiệm được quy định trong pháp luật, do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu, thể hiện quan việc chủ thể phải chịu những thiệt hại nhất định về tài sản,.
được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế nhà nước. Bên cạnh đó, trách nhiệm về bồi hoàn chi phí đào tạo còn mang những đặc điểm riêng sau: - Về cơ sở pháp lý: Với quy định của pháp luật lao động hiện hành, việc bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ thông qua chế định bồi hoàn chi phí đào tạo được thực hiện dựa theo cơ sở pháp lý nhất định, cụ thể như sau: 11 Thứ nhất, trách nhiệm bồi hoàn về chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động là một trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quan hệ lao động. Điều kiện đặt ra là quan hệ lao động phải được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, thiện chí của các chủ thể. Thứ hai, trách nhiệm về bồi hoàn chi phí đào tạo chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện nhất định, đó là: (i) có thiệt hại xảy ra tức là phải có thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của một trong các chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động gây ra, (ii) phải có hành vi vi phạm của các chủ thể trong quan hệ lao động đó là hành vi vi phạm các cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng lao động, (iii) phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, tức là hành vi trái pháp luật đó phải gây thiệt hại cho một trong các chủ thể tham gia quan hệ lao động và yếu tố lỗi của người gây thiệt hại là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường khi chấm dứt quan hệ lao động trái pháp luật.
Đây là những căn cứ có tính chất quan trọng để xác định trách nhiệm của người có hành vi vi phạm quy định pháp luật lao động. Thứ ba, trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động là trách nhiệm pháp lý được ghi nhận trong pháp luật lao động. Trách nhiệm pháp lý ở đây là trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo, cũng được xem như về bồi thường thiệt hại khi có một trong hai bên chủ thể tham gia vào quan hệ lao động có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho phía bên kia thì chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại, cũng như là bồi hoàn về chi phí đào tạo.