CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Nhiều ngành khoa học cũng như các nhà khoa học đã tìm hiểu và nghiên cứu về TD. Mỗi một ngành khoa học lại có những khía cạnh nghiên cứu về TD khác nhau. Tâm lý học nghiên cứu mối quan hệ qua lại của TD với các khía cạnh khác của nhận thức.
Tâm lý học còn nghiên cứu diễn biến của quá trình TD. Triết học nghiên cứu TD dưới góc độ lý luận nhận thức. Lôgic học nghiên cứu TD ở các quy tắc TD đúng. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình TD ở con người.
Xã hội học nghiên cứu TD ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Tâm lí học cho rằng: “TD phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết”[12,10]. Chúng ta thấy TD là một thế giới đặc biệt, đây là quá trình phản ánh độc lập, mang tính khái quát, gián tiếp được diễn ra trong hoạt động thực tiễn. Dưới góc độ giáo dục: TD là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện.
TD dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, TD là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích. Những kích thích này nhận được thông qua các giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác, khứu giác hay vị giác. Như vậy, chúng ta có thể hiểu TD là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người.
Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ. Mục tiêu cuối cùng của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống của con người. Đặc điểm của tư duy Tính có vấn đề của TD: TD luôn phản ánh cái bản chất chung nhất cho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, một phạm trù, đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể, cá biệt. Ngoài ra, TD luôn phản ánh gián tiếp hiện thực.Trong TD có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính.
TD mà con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề”.Tuy nhiên vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân (cái gì đã biết, cái gì còn cần tìm kiếm), đồng thời nằm trong ngưỡng hiểu biết của cá nhân và là nhu cầu động cơ tìm kiếm của cá nhân. Tính gián tiếp của TD: TD phản ánh sự vật, hiện tượng hàng ngày gián tiếp qua ngôn ngữ. Tất cả những kinh nghiệm vốn có của con người, những sản phẩm sáng tạo của chúng ta đều là công cụ để chúng ta tìm hiểu thế giới xung quanh để giải quyết vấn đề mà chúng ta mắc phải trong cuộc sống mà không thể tri giác một cách trực tiếp. TD có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: TD của con người không thể phát triển bên ngoài ngôn ngữ.
Và ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không có TD. Vì vậy TD của con người gắn liền với ngôn ngữ. Ngôn ngữ có vai trò cố định lại các kết quả của TD và nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy. TD có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: TD được tiến hành trên cơ sở những tài liệu nhận thức cảm tính đem lại, kết quả TD được kiểm tra bằng thực tiễn dưới hình thức trực quan, ngược lại tư duy và kết quả của nó có ảnh hưởng đến quá trình nhận thức cảm tính.
Tính chất lý tính của TD: Chỉ có TD mới giúp con người phản ánh được bản chất của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của chúng. TD có phản ánh đúng hay không còn phụ thuộc vào chiến thuật và phương pháp TD. Các vấn đề về tư duy sáng tạo 1. Khái niệm về tư duy sáng tạo Theo Nguyễn Đức Uy cho rằng : “ Sáng tạo là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân và những tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời người ấy” [27,12].
Quan điểm này cho chúng ta thấy rõ là dù sáng tạo ít hay sáng tạo nhiều vẫn là sáng tạo. Không có sự phân biệt giữa sáng tạo ít hay sáng tạo nhiều cứ có sự mới mẻ, nảy sinh sáng tạo một cách độc đáo vậy là có tư duy sáng tạo. Khi tìm hiểu về TDST cũng có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Tác giả Nguyễn Huy Tú trong Đề cương bài giảng Tâm lý học sáng tạo, định nghĩa sáng tạo như sau: “Sáng tạo thể hiện con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề” [26,5].
Để có được quá trình sáng tạo thì con người phải tập trung phẩm chất, năng lực và kinh nghiệm của mình, cuối cùng là dùng TD độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, mới mẻ hợp lí trong một bình diện nhất định. Người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những ý kiến sáng tạo, mới mẻ, thích hợp cho vấn đề đặt ra. Trong cuốn Sổ tay Tâm Lý học, tác giả Trần Hiệp, Đỗ Long cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc” [10,34].
Theo từ điển triết học: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất. Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, tổ chức, quân sự,…” [26,9] Tất cả các khái niệm trên đều cho chúng ta thấy rằng: TDST là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người; hoạt động sáng tạo 13 diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực; bản chất của sáng tạo là con người tìm ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội. Tất cả các nhà nghiên cứu đều nhìn dưới góc độ khác nhau nhưng đều có điểm chung là nhắc tới ý nghĩa của xã hội của sản phẩm sáng tạo. Đặc trưng của tư duy sáng tạo Đặc trưng của TDST cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên các nhà nghiên cứu, các quan niệm đều cho rằng TDST mang các đặc trưng căn bản sau: tính chi tiết, tính phê phán, tính độc lập, tính linh hoạt, tính thuần thục, tính độc đáo, khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới, tính nhạy cảm vấn đề.
Với luận văn này chúng tôi thống nhất với quan điểm của Guilford J. Các tác giả này cho rằng đặc trưng của TDST là các yếu tố như tính thuần thục, tính mềm dẻo, tính độc đáo. Tính mềm dẻo trong TDST Tính mềm dẻo thể hiện ở chỗ có thể chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác. Có nghĩa là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, tạo ra sự vật mới trong mối liên hệ mới nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh có vấn đề.
Tính mềm dẻo của TDST thể hiện như sau: Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác. Đó là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, xây dựng phương pháp TD mới, tạo ra sự vật mới trong mối liên hệ mới,. dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người. Có thể thấy rằng tính mềm dẻo (linh hoạt) của TD có những đặc điểm sau: Kịp thời điều chỉnh suy nghĩ nếu gặp tình huống có vấn đề; Dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác phù hợp và sáng tạo hơn; Không bị ảnh hưởng bởi các kinh nghiệm, cách suy nghĩ, phương pháp đã có; Không áp dụng máy móc những tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có; Nhận ra sự mới mẻ sáng tạo trong điều kiện quen thuộc.
Tính thuần thục trong TDST Tính thuần thục thể hiện khả năng làm chủ kiến thức, kĩ năng, TD và khả năng đưa ra được nhiều cách giải quyết cho một vấn đề. Tính thuần thục có các đặc trưng sau: Có khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có cái nhìn toàn diện, đa chiều đối với một vấn đề, một hoàn cảnh có vấn đề; Từ tình huống có vấn đề có thể đưa được ra nhiều giải pháp, từ những giải pháp này sẽ lựa chọn được giải pháp tối ưu và hiệu quả nhất. Tính độc đáo Tính độc đáo là khả năng tìm kiếm những ý tưởng, suy nghĩ mới mẻ, sáng tạo và quyết định phương thức lạ và duy nhất. Tính độc đáo có các đặc trưng cơ bản sau: Trong một vấn đề có rất nhiều các giải pháp quen thuộc nhưng khả năng để tìm ra được một giải pháp mới thì đây là một đặc trưng cơ bản của tính độc đáo; Còn thể hiện ở khả năng tìm ra những liên tưởng và kết hợp mới; Khả năng tìm ra các mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài tưởng như không có quan hệ với nhau.
Tính độc đáo là một yếu tố đặc trưng của TDST. Những dấu hiệu của tính độc đáo có thể khá nhiều, nhưng chúng đều có sự thống nhất ở một điểm: sự khám phá ra cái mới, không lặp lại bất cứ cái gì trước đó. Đây là điểm phân biệt tư duy kinh nghiệm với TDST. Tính độc đáo trong TDST mang đến những thay đổi có thể nhiều hoặc ít, nhưng chúng đều tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, làm cho xã hội loài người phát triển ngày càng văn minh hiện đại.
Để phát triển được TDST thì không thể thiếu các đặc trưng trên. Các đặc trưng này có sự liên hệ mật thiết với nhau. Tính sáng tạo được coi là đặc trưng quan trọng nhất. Tính thuần thục và tính mềm dẻo là cơ sở để có thể đạt được có một TDST một cách hoàn chỉnh nhất.
Trở ngại của lối mòn tư duy đối với tư duy sáng tạo Trong não của mỗi chúng ta có rất nhiều lối mòn TD được hình thành.