CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận về bồi dưỡng năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực (competensy) có nguồn gốc từ tiếng La tinh, được hiểu là sự thành thạo, là khả năng thực hiện của một cá nhân đối với một công việc.
Theo Nguyễn Lân: “Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ phẩm chất đạo đức và chuyên môn[8]” Năng lực là sự kết hợp linh hoạt của nhiều đặc điểm tâm lí tạo thành các điều kiện thuận lợi giúp người đó tiếp thu dễ dàng, nhanh chóng đạt hạt hiệu quả trong các hoạt động của một lĩnh vực nào đó. Năng lực mang sự bao hàm khả năng của một người và sự sẵn sàng để giải quyết các vấn đề. Nhà tâm lý học Robert Epstein đưa ra quan niệm về năng lực như sau: “Năng lực là một trong những đặc tính tâm lý của con người quyết định và chi phối quá trình tiếp nhận kiến thức,kĩ năng của con người cũng như quyết định quả đạt được trong các hoạt động nhất định. Năng lực con người là sự kết hợp giữa năng khiếu bẩm sinh đã được phát triển và sự tác động giáo dục của của môi trường xung quanh theo thời gian” [20].
Dưới góc độ tâm lí học: Năng lực bao gồm các đặc điểm của cá nhân có phù hợp với các yêu cầu của hoạt động sao cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Người có năng lực không cần tốn quá nhiều thời gian và sự nỗ lực vẫn có thể giải quyết được vấn đề nhanh hơn những người khác.Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Năng lực bao gồm các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức cũng như quan điểm của một cá nhân để hành động thành công trong các tình huống linh hoạt. Bản chất của năng lực là sự kết hợp linh hoạt, nhịp nhàng, có tổ chức một cách hợp lí để thực hiện thành công các tình huống cuộc sống.
Năng lực 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang dấu ấn cá nhân của chủ thể do năng lực là một trong những thuộc tính của nhân cách, được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách, thể hiện sự đánh giá chủ quan của chủ thể[3]. Năng lực được cấu thành từ 3 yếu tố: tri thức, kĩ năng và các điều kiện tâm lí cho việc thực hiện hành động của mỗi cá nhân, trong đó kĩ năng được coi là yếu tố cốt lõi của năng lực[11]. Theo tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng của học sinh THPT môn Vật lí, năng lực được hình thành trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành năng lực[2]. Như vậy, chúng tôi cho rằng năng lực khả năng có thể thực hiện hiệu quả các hành động trong nhiều tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp, xã hội, trên cơ sở hiểu biết và các kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm của một cá nhân cũng như sự sẵn cho các hành động.
Cấu trúc của năng lực Theo Nguyễn Văn Cường, cấu trúc chung của năng lực bao gồm 4 thành phần chính: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể[5]. - Năng lực chuyên môn (Professinal competency): Là năng lực đặc trưng trong một lĩnh vực nhất định,bao gồm kiến thức chuyên môn và kỹ năng cần thiết cho các hành động, chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lí vận động. - Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là năng lực của cá nhân với các hành động có kế hoạch, bao gồm phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Đặc điểm chính của năng lực phương pháp là khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ tri thức.
- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong giao tiếp xã hội cũng như sự phối hợp hoàn hảo với các cá thể khác 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm đạt được mục đích giao tiếp, được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. - Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá các cơ hội phát triển cũng như các giới hạn cá nhân, phát triển được năng khiếu và xây dựng thương hiệu cá nhân, được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy hành động, chịu trách nhiệm[5]. Các năng lực chung cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông Trong tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, các năng lực chung cốt lõi cần hình thành cho học sinh bao gồm: - Năng lực tự học (NLTH):là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học. NLTH là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển.
Tự học và năng lực tự học của học sinh là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của HS trong quá trình học tập[7]. - Năng lực giao tiếp(NLGT): là việc sử dụng hiệu quả các các kĩ năng cá nhân, kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội trong các tình huống giao tiếp cụ thể. Nó còn bao gồm ngôn ngữ phong phú trong các tình huống giao tiếp mà không đơn thuần các năng lực ngữ pháp đơn thuần. Xử lí các thông tin tiếp nhận một cách tích cực và trôi chảy, nhạy bén và phản xạ nhanh với các bối cảnh giao tiếp khác nhau và có thể thích nghi với các tình huống giao tiếp mới lạ[10].
- Năng lực hợp tác(NLHT): là khả năng tương tác lẫn nhau, trong đó các cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và biết cách cùng làm việc, lắng nghe và quan tâm tới các quan điểm khác nhau; giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau,biết nắm bắt và phát huy thế mạnh của từng cá nhân trong công việc nào đó vì mục đích chung có hiệu quả với tất cả cá nhân. Người có NLHT cần phải thực hiện được các kĩ năng: KN tổ chức nhóm hợp tác, KN chia sẻ thông tin, KN diễn đạt ý kiến, KN giải quyết mâu thuẫn, khả năng đánh giá[14]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực sáng tạo(NLST): là khả năng cá nhân có thể tạo ra những điều mới mẻ trong một lĩnh vực nào đó hoặc xử lí một vấn đề theo một phương pháp hoàn toàn mới mà chưa từng có tiền đề trước đó. Sáng tạo là điều cần thiết để tạo ra các cách giải pháp mới cho các vấn đề lớn và phức tạp.
Học sinh hiện nay cần được dạy để sở hữu sự năng lực sáng tạo. Có thể phát triển sự sáng tạo cho học sinh thông qua việc đào tạo một trong các kĩ năng: bảo vệ (bảo vệ quan điểm cá nhân khi có ý tưởng mới); thử thách(thực hiện các nhiệm vụ khó khăn); mở rộng (tìm kiếm kiến thức và kĩ năng ngoài lĩnh vực chuyên môn); xung quanh (tìm kiếm các dạng mới xung quanh hoặc kết hợp các dạng với nhau. - Năng lực giải quyết vấn đề(GQVĐ): khả năng cá nhân có thể nắm bắt được một vấn đề mới, biết cách phân tích và làm rõ vấn đề, từ đó đề xuất được các giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề đó. Cá nhân có khả năng đánh giá và tìm ra tiến trình giải quyết vấn đề đó một cách hiệu quả nhất[8].
Các năng lực chuyên biệt cần phát triển cho học sinh trong dạy học Vật lí 1. Năng lực thực nghiệm Vật lí Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn Vật lí, ngoài việc tiếp thu và nắm bắt kiến thức học sinh cần có khả năng làm thí nghiệm(TN) và đề xuất được các phương án thí nghiệm Vật lí nhằm kiểm tra lại các hệ quả Vật lí, các suy đoán khoa học để kiểm chứng tính đúng đắn của hệ quả đó hoặc khẳng định các suy đoán trước đó là đúng đắn. Do đó, việc phát triển năng lực thực nghiệm(NLTN) Vật lí là hết sức quan trọng và cần thiết với mỗi cá nhân học tập và nghiên cứu Vật lí. Trong từ điển Tiếng Việt, NLTN được định nghĩa:“Năng lực thực nghiệm là tổ hợp bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ và hứng thú hành động 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của cá nhân một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống bằng phương pháp thực nghiệm.” Trên cơ sở đó, NLTN Vật lí (VL) được định nghĩa như sau: “NLTN VL là khả năng của mỗi cá nhân có thể áp dụng các kiến thức Vật lí đã được lĩnh hội cùng với các kĩ năng thực hành giải quyết các tình huống thực tiễn”[13].
Nó có thể là khả năng lí giải một hiện tượng VL, thực nghiệm thành công một thí nghiệm VL hay chế tạo một dụng cụ thí nghiệm hoạt động dựa trên các nguyên tắc VL để học tập và nghiên cứu. NLTN đỏi hỏi HS phải có tư duy nhất định về các khái niệm Vật lí, phải lí giải được các hiện tượng VL, kết hợp với các kĩ năng vốn có từ đó vận dụng được kiến thức VL vào thực tiễn và thực nghiệm chứ không dừng lại ở mức độ hiểu[6]. Những biểu hiện của người học có năng lực thực nghiệm Vật Lí[𝟏𝟓] + Hiểu và thực hiện đúng các quy tắc khi làm TN + Có sự hiểu biết nhất định về các thiết bị, xử lí số liệu, sai số. + Xác định được mục đích TN, lựa chọn đúng các dụng cụ thí nghiệm và lắp ráp được các dụng cụ thí nghiệm.
+ Quan sát được chính xác các hiện tượng xảy ra khi làm thí nghiệm, hiệu chỉnh + Có thái độ kiên nhẫn, tỉ mỉ, tích cực… 1. Năng lực tính toán Cần thiết phát triển NL tính toán cho HS, giúp HS tích cực hơn trong việc học, gợi động cơ yêu thích môn học, có thể đáp ứng nhu cầu khác nhau của các kì thi. Phát triển NL toán học trong dạy và học bao gồm: Phát triển NL tính toán cho GV và phát triển NL tính toán cho HS. Phát triển NL toán học cho HS đòi hỏi HS phải mô hình hóa các quy luật Vật lí thành các công thức toán học, sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã biết ra hệ quả hoặc ra kiến thức mới bằng cách phát biểu, giải thích bằng lời, biến đổi hình thức các công thức, quy luật Vật lí.