Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning trong dạy học phần Quang hình học Vật lý 11

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo b learning trong dạy học phần quang hình học vật lí 11, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Đại học Huế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

241
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Giả thuyết khoa học

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.8. Những đóng góp mới của luận án

1.9. Cấu trúc luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THEO B-LEARNING PHẦN QUANG HÌNH HỌC VẬT LÍ 11

2.1. Cấu trúc nội dung và mục tiêu dạy học phần Quang hình học Vật lí 11

2.2. Cấu trúc nội dung phần Quang hình học. Mục tiêu dạy học phần Quang hình học

2.3. Kế hoạch dạy học phần Quang hình học theo B-Learning. Xây dựng trang Vatly-blearning Quang hình học

2.4. Mô hình trang Vatly-blearning Quang hình học

2.5. Bài giảng Quang hình học đồng bộ hoá

2.6. Bài tập trực tuyến Quang hình học

2.7. Kiểm tra trực tuyến phần Quang hình học

2.8. Tài liệu trực tuyến hỗ trợ dạy học Quang hình học

2.9. Hồ sơ học tập điện tử của học sinh

2.10. Thiết kế tiến trình dạy học một số đơn vị kiến thức phần Quang hình học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning

2.10.1. Tiến trình dạy học bài “Khúc xạ ánh sáng”

2.10.2. Tiến trình dạy học bài “Phản xạ toàn phần”

2.10.3. Tiến trình dạy học bài “Lăng kính”

2.11. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.3. Đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Phương pháp quan sát giờ học

3.4.2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

3.4.3. Phương pháp thống kê

3.5. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.6. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.6.1. Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1

3.6.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2

3.7. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

P1. PHIẾU KHẢO SÁT GIÁO VIÊN. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CỦA GIÁO VIÊN

P2. PHIẾU KHẢO SÁT HỌC SINH. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CỦA HỌC SINH

P3. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 26

P4. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 27

P5. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 28

P6. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 29

P7. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 30

P8. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 31

P9. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 32

P10. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 33

P11. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM BÀI 34

P12. BÀI KIỂM TRA CHƯƠNG VI

P13. BÀI KIỂM TRA CHƯƠNG VII

P14. ĐÁP ÁN CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

P15. GIÁO ÁN BÀI KHÚC XẠ ÁNH SÁNG

P16. GIÁO ÁN BÀI PHẢN XẠ TOÀN PHẦN

P17. GIÁO ÁN BÀI LĂNG KÍNH

P18. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRANG VATLY-BLEARNING

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về B Learning và năng lực tự học Vật lý 11

B-Learning, hay còn gọi là học kết hợp, là một phương pháp dạy học hiện đại, kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp. Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là rất quan trọng, đặc biệt trong môn Vật lý 11. Năng lực tự học không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn phát triển tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề. Việc áp dụng B-Learning trong dạy học Vật lý 11 sẽ tạo ra môi trường học tập linh hoạt, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức và phát triển kỹ năng tự học.

1.1. Khái niệm B Learning và vai trò của nó trong giáo dục

B-Learning là sự kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp, cho phép học sinh học tập theo cách linh hoạt và hiệu quả hơn. Phương pháp này giúp học sinh có thể tự học ở nhà thông qua các tài liệu trực tuyến, đồng thời vẫn có sự hỗ trợ từ giáo viên trong các buổi học trực tiếp.

1.2. Năng lực tự học và tầm quan trọng của nó trong Vật lý 11

Năng lực tự học là khả năng tự tìm kiếm, tiếp thu và áp dụng kiến thức một cách độc lập. Trong môn Vật lý 11, việc phát triển năng lực tự học giúp học sinh không chỉ hiểu sâu về các khái niệm mà còn có khả năng áp dụng chúng vào thực tiễn.

II. Thách thức trong việc bồi dưỡng năng lực tự học theo B Learning

Mặc dù B-Learning mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng phương pháp này trong dạy học Vật lý 11 cũng gặp phải một số thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại nhiều trường học. Ngoài ra, không phải tất cả học sinh đều có khả năng tự học hiệu quả, điều này đòi hỏi giáo viên phải có những biện pháp hỗ trợ phù hợp.

2.1. Thiếu hụt cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Nhiều trường học vẫn chưa có đủ thiết bị và kết nối internet để triển khai B-Learning một cách hiệu quả. Điều này gây khó khăn cho học sinh trong việc truy cập tài liệu học tập trực tuyến.

2.2. Khả năng tự học của học sinh còn hạn chế

Không phải tất cả học sinh đều có khả năng tự học tốt. Một số học sinh cần có sự hướng dẫn và hỗ trợ từ giáo viên để phát triển năng lực tự học của mình.

III. Phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học qua B Learning

Để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh theo phương pháp B-Learning, cần áp dụng một số phương pháp giảng dạy hiệu quả. Việc thiết kế các bài giảng trực tuyến hấp dẫn, kết hợp với các hoạt động học tập tương tác sẽ giúp học sinh hứng thú hơn với việc học. Ngoài ra, giáo viên cũng cần tạo ra các cơ hội để học sinh thực hành và áp dụng kiến thức đã học.

3.1. Thiết kế bài giảng trực tuyến hấp dẫn

Bài giảng trực tuyến cần được thiết kế một cách sinh động, sử dụng hình ảnh, video và các tài liệu tương tác để thu hút sự chú ý của học sinh.

3.2. Tạo cơ hội thực hành cho học sinh

Giáo viên nên tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm và dự án nhóm để học sinh có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó phát triển năng lực tự học.

IV. Ứng dụng thực tiễn của B Learning trong dạy học Vật lý 11

Việc áp dụng B-Learning trong dạy học Vật lý 11 đã cho thấy những kết quả tích cực. Học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả hơn mà còn phát triển được kỹ năng tự học. Nhiều trường học đã triển khai thành công các mô hình B-Learning, giúp học sinh có cơ hội học tập linh hoạt và chủ động hơn.

4.1. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của B Learning

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng B-Learning trong dạy học Vật lý 11 giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh, đồng thời phát triển năng lực tự học.

4.2. Các mô hình B Learning thành công tại trường học

Một số trường học đã triển khai mô hình B-Learning thành công, tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích học sinh tự học.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của B Learning trong giáo dục

B-Learning là một phương pháp dạy học hiện đại, có tiềm năng lớn trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh. Trong tương lai, việc áp dụng B-Learning sẽ ngày càng trở nên phổ biến, giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. Cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ các cơ quan giáo dục để nâng cao hiệu quả của phương pháp này.

5.1. Tầm quan trọng của B Learning trong giáo dục hiện đại

B-Learning không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả mà còn phát triển kỹ năng tự học, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề.

5.2. Định hướng phát triển B Learning trong tương lai

Cần có các chính sách hỗ trợ và đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để B-Learning có thể phát triển mạnh mẽ hơn trong giáo dục.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc bồi dƣỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning Chƣơng 3. Tổ chức dạy học theo hƣớng bồi dƣỡng năng lực tự học của học sinh theo B-Learning phần Quang hình học Vật lí 11 Chƣơng 4.

Thực nghiệm sƣ phạm 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về năng lực và năng lực tự học 1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới NL là một phạm trù đƣợc bàn đến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Dƣới góc độ tâm lý học, NL trở thành đối tƣợng nghiên cứu chuyên sâu trong các công trình của F. Trong nghiên cứu của mình, F. Ganton cho rằng NL có những biểu hiện nhƣ tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động nào đó. Ngƣời có NL là ngƣời đạt hiệu suất và chất lƣợng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan nhƣ nhau.

NL gắn bó chặt chẽ với tính định hƣớng chung của nhân cách (dẫn theo [41]). Rudich, NL đó là tính chất tâm sinh lý của con ngƣời chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng nhƣ hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định (dẫn theo [41]). NL của con ngƣời không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. NL đó là năng khiếu đƣợc phát triển, có năng khiếu chƣa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành NL.

Muốn vậy phải có môi trƣờng xung quanh tƣơng ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích. Cosmovici “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định [92]. Leonchiev cho rằng “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định [103]. Dƣới góc độ của các nhà di truyền học trên thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX cho rằng “năng lực ph thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh của di truyền gen (dẫn theo [68]).

Những nghiên cứu của A. Watson coi NL của con ngƣời là sự thích nghi “sinh vật” với điều kiện sống [29]. Các quan điểm này nghiên cứu NL tập trung vào khía cạnh bản năng, yếu tố bẩm sinh, di truyền của con ngƣời mà chƣa quan tâm đến hoạt động giáo dục. Dƣới góc độ của các nhà Giáo dục học, thuật ngữ NL cũng đƣợc xem xét đa chiều hơn: NL là một tập hợp kiến thức, thái độ và kĩ năng hoặc các chiến lƣợc tƣ duy cốt l i cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng; NL là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc… Trung tâm nghiên cứu châu Âu về 7 việc làm và lao động đã phân tích r mối liên quan giữa các khái niệm “Năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge) , từ đó đã tổng hợp các định nghĩa chính về NL trong đó nêu r NL là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó.

Điều này có nghĩa là, các NL luôn bị chi phối bởi bối cảnh cụ thể mà trong đó các NL đƣợc đòi hỏi. Vì thế, trong điều kiện toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, học tập không ngừng là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào; NL là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức, kĩ năng, thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc chuyên môn và đƣợc thể hiện trong thực tiễn hoạt động. Tuy quan niệm về NL dƣới các góc độ nghiên cứu của nhiểu các tác giả còn có sự khác nhau nhất định, nhƣng đều thống nhất ở một điểm chung đó là: Nói đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn tập trung vào bản chất của NLTH, theo thống kê của Candy đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau đƣợc sử dụng đồng nghĩa với NLTH đó là: Học tập độc lập, TH, ngƣời học tự kiểm soát, hƣớng dẫn bản thân, tự giáo dục, học tập phi truyền thống, học tập mở, học tập tự tổ chức, TH theo kế hoạch.

Nội dung các định nghĩa tập trung mô tả ngƣời TH là ngƣời chủ động thể hiện kết quả học tập (KQHT) của mình, kiên trì trong học tập và chịu trách nhiệm về việc học. Tác giả đã liệt kê đƣợc 12 biểu hiện của ngƣời có NLTH, đồng thời đƣợc ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trƣờng học tập. Tuy nhiên, tác giả chƣa đƣa ra đƣợc thang đo cụ thể để đánh giá NLTH của HS. Sharma đã nghiên cứu về TH và xem hoạt động TH nhƣ là một PPDH hiệu quả mà ông gọi đó là phƣơng pháp TH trong tác phẩm “Phương pháp dạy học ở đại học [65].

Tác giả đã khuyến khích sinh viên TH bằng cách lồng ghép phƣơng pháp TH trong quá trình giảng dạy của giảng viên. Tuy nhiên, sẽ gặp khó khăn nhất định khi áp dụng những phƣơng pháp TH này cho đối tƣợng ngƣời học là HS phổ thông. Tác giả Taylor trong tác phẩm “Tự học - Một ý tưởng thích hợp nhất cho học sinh THPT đã đƣa ra những biểu hiện của ngƣời có NLTH và xác nhận ngƣời TH là ngƣời có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỷ luật, biết định hƣớng mục tiêu và có kĩ năng hoạt động phù hợp [118]. Carl Rogers, nhà tâm lý học ngƣời Mỹ, chủ trƣơng hình 8 thành môi trƣờng học tập, trong đó ngƣời học có ý thức về bản thân, an toàn và tự do để lựa chọn.

Ngƣời học phải có trách nhiệm đầy đủ về sự quyết định, về hành động và KQHT của họ, GV có nhiệm vụ xây dựng môi trƣờng học tập tin cậy an toàn trở thành ngƣời cùng học, chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và kĩ thuật học tập [111]. Trong cuốn “Tự học - Lí luận và thực tiễn , Sandra Kerka cho rằng quan niệm sai lầm lớn nhất là cố gắng để nắm bắt đƣợc bản chất của TH trong một định nghĩa duy nhất. Theo tác giả cho dù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay học nhóm, mỗi một cá nhân ngƣời học có phƣơng pháp, có NL riêng biệt - chính sự riêng biệt ấy cho thấy NLTH và việc TH của mỗi cá nhân là khác nhau [102]. Công trình “Học tập một cách thông minh của Shayer Michael và Adey Philip đã đƣa ra nhiều biện pháp giúp HS học tập một cách thông minh.

Các tác giả chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ đó đƣa ra những gì cần giúp đỡ các em trong quá trình TH. Bên cạnh đó Michael và Phillip còn quan tâm đến những giao tiếp của HS khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận mức hiểu bài cũng nhƣ mức độ tích cực của HS khi TH [105]. Trong cuốn sách “Tự học , Richard Smith lại cho rằng TH có nghĩa là ngƣời học tự chủ. Theo ông đây không hẳn là một phƣơng pháp trong DH mà là một mục tiêu quan trọng của giáo dục.

Ý tƣởng về tự chủ của ngƣời học không phải là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác nhƣ: Cá nhân hóa, ngƣời học độc lập. Điều này có ý nghĩa là ngƣời học phải có đầy đủ NL để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình [114]. Tác giả Dimitrios Thanasoulas, trong cuốn “Tự học là như thế nào và làm thế nào bồi dưỡng việc tự học cho rằng khái niệm TH là sự độc lập và tự chủ của ngƣời học. Nó là một vấn đề quan trọng nhất trong việc giảng dạy.

Ngƣời học học tập một cách độc lập và có trách nhiệm đối với việc học của mình; Tác giả cũng không phủ nhận vai trò hƣớng dẫn của GV đối với việc TH của HS. Bên cạnh đó, tác giả phân tích khá kĩ về việc mỗi cá nhân đều khác nhau về thói quen học tập, sở thích, nhu cầu và động lực. Từ đó ông đƣa ra trong nghiên cứu của mình quan niệm về TH, điều kiện để TH, chiến lƣợc học tập hiệu quả cũng nhƣ những biện pháp khuyến khích HS TH và tự kiểm tra, đánh giá việc học của bản thân [119]. Từ những kết quả nghiên cứu trên thế giới về NL, NLTH và bồi dƣỡng NLTH chúng tôi nhận thấy: TH là yếu tố quyết định cho xu hƣớng học tập suốt đời của mỗi cá 9 nhân trong xã hội hiện đại.

Việc bồi dƣỡng NLTH là rất cần thiết, ảnh hƣởng trực tiếp tới việc học của ngƣời học. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, vấn đề NL nhận đƣợc sự quan tâm của các tác giả trong nƣớc nhƣ Phạm Minh Hạc [24], Nguyễn Sinh Huy và cộng sự [34], Đặng Thành Hƣng [35], Lƣơng Việt Thái [67], Lâm Quang Thiệp [69], Nguyễn Quang Uẩn [81], Phạm Viết Vƣợng [83] … với một nội hàm khá r ràng. NL theo các nhà tâm lý học là những thuộc tính của cá nhân [35], [81]; sự kết hợp linh hoạt và độc đáo hay tổ hợp đặc điểm tâm lý của con ngƣời [24], [34]; NL là cái có đƣợc thông qua đào tạo, bồi dƣỡng và trải nghiệm thực tiễn [83]. Những nghiên cứu này cho thấy, NL gắn liền với hoạt động và giá trị thu đƣợc của hoạt động ấy.

NL luôn đƣợc xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ với một đặc trƣng tâm lý nhất định nào đó. Theo đó NL có cấu trúc gồm ba bộ phận cơ bản: Tri thức, kĩ năng và những điều kiện tâm lý. Nhấn mạnh đến tính mục đích và nhân cách NL trong nghiên cứu [24] hay coi các mục tiêu về NL là những mục tiêu có tính tổng hợp [69] hay coi NL là khả năng đơn lẻ của cá nhân, đƣợc hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể [67]. Với cách hiểu này, việc đánh giá NL ngƣời học đƣợc dựa trên các kết quả có thể nhìn thấy (chủ yếu là điểm thi và kiểm tra) [67].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ