Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ TRANG ĐIỂM THẨM MỸ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Năng lực sư phạm và những vấn đề cơ bản về tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình hình thành, phát triển và mục tiêu đào tạo của các cơ sở dạy nghề trang điểm thẩm mỹ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nguồn nhân lực là một trong những nhân tố có vai trò quyết định việc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Việc thực hiện các chính sách xã hội, xoá đói giảm nghèo đòi hỏi phải đi liền với các hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đào tạo nghề.
Thực tiễn trong những năm qua, mạng lưới các cơ sở dạy nghề phát triển khá mạnh và phân bổ khắp 24 quận, huyện đã góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo thông qua các khóa học ngắn hạn phù hợp yêu cầu thực tế và có chất lượng tốt. Nhờ đó đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn nam nữ thanh niên Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), hiện cả nước có trên 1.180 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và các trung tâm dạy nghề. Dự kiến đến năm 2015 số lượng cơ sở dạy nghề sẽ tăng lên 1.410 và năm 2020 sẽ đạt con số 1.
Đến năm 2015 phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40% (khoảng 23,5 triệu người) và 55% (khoảng 34,4 triệu người) vào năm 2020. Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển đào tạo nghề, ngành dạy nghề thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai công tác xây dựng và phát triển đào tạo nhiều ngành nghề phong phú trong đó có ngành trang điểm thẩm mỹ. 15 Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, bên cạnh các trung tâm dạy nghề của các quận, huyện thì các cơ sở, trường đào tạo nghề ngắn hạn, thiết kế linh hoạt phù hợp với thời gian đào tạo ngắn ngày, với nhiều cấp độ từ sơ cấp tới chuyên sâu nhằm truyền đạt các kỹ năng nghề nghiệp ở mọi cấp độ dạy phổ cập nghề và bồi dưỡng, bổ túc nghề cho lao động cần chuyển dịch nghề nghiệp đã góp phần giải quyết việc làm tại chỗ và đã giúp cho người lao động có cơ hội tự tạo việc làm và tìm việc làm. Giáo viên dạy nghề trang diểm thẩm mỹ và năng lực sư phạm của giáo viên dạy nghề trang diểm thẩm mỹ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh * Giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ Theo quy định của Điều 58 Luật Dạy nghề, giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết, vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề và phải có những tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 2 Điều 70 của Luật Giáo dục.
Giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ là những giáo viên chuyên dạy các nghề trong lĩnh vực chăm sóc sắc đẹp của con người như: Cắt uốn tóc, trang điểm, chăm sóc da, móng tay, móng chân ở các cơ sở đào tạo nghề trang điểm thẩm mỹ. Họ phải đạt các tiêu chuẩn quy định, thường xuyên được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp sư phạm. - Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề được quy định như sau: Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao; Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc nghệ nhân, người có tay nghề cao; 16 Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc nghệ nhân, người có tay nghề cao; Trường hợp giáo viên dạy nghề theo quy định trên không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm. - Chức trách, nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ Chức trách: giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ là người làm nhiệm vụ giảng dạy lý thuyết và thực hành nghề trang điểm thẩm mỹ theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Nhiệm vụ: giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình quy định và kế hoạch được giao. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật; chấp hành quy chế, nội quy của đơn vị; tham gia các hoạt động chung của cơ sở dạy nghề và với địa phương nơi cơ sở dạy nghề đặt trụ sở. Thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; rèn luyện phẩm chất đạo đức; giữ gìn uy tín, danh dự của nhà giáo. Tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với người học; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học nghề.
Chịu sự giám sát của đơn vị về nội dung, chất lượng, phương pháp giảng dạy và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Đội ngũ giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ cũng có vai trò rất quan trọng, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo của các cơ sở dạy nghề, quyết định chất lượng đội ngũ lao động của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của cả nước nói chung, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội trên địa bàn và trên phạm vi toàn quốc. Để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ phải có phẩm chất, năng lực, trong đó năng lực sư phạm giữ vị trí quan trọng đặc biệt. 17 * Năng lực sư phạm của giáo viên dạy nghề trang điểm thẩm mỹ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể đều đòi hỏi con người phải có năng lực nhất định, phải có kiến thức văn hoá cơ bản, có kiến thức cần thiết về hoạt động nghề nghiệp của mình. Năng lực con người được nhiều môn khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tâm lý học Mác-xít cho rằng: "Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý của cá nhân đáp ứng với những yêu cầu hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động nhanh chóng, thành thạo và đạt kết quả cao". Năng lực được hiểu là những thuộc tính tâm, sinh lý quy định khả năng thực hiện các hoạt động của cá nhân.
Theo cách hiểu này, tính trội của năng lực là năng khiếu và những tố chất tự nhiên của cá nhân đã được xã hội hoá. Đây là những thuộc tính tâm lý của cá nhân mà chúng ta chỉ có thể cảm nhận được hoặc đo được thông qua các công cụ trợ giúp nào đó. Tức là không thể trực tiếp tri giác được các thuộc tính bằng các giác quan. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó".
Định nghĩa trên cho thấy, một hình thái khác của năng lực là khả năng hoạt động của cá nhân được hình thành và biểu hiện trong thực tiễn. Năng lực bao giờ cũng phải gắn với một lĩnh vực hoạt động cụ thể. Tính trội của năng lực ở đây thường được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân mà chúng ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được biểu hiện đang diễn ra của nó. Đó là phẩm chất của cá nhân được thể hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động thực tiễn.
Đạo đức học quan niệm về năng lực trong mối liên hệ với phẩm chất để phản ánh những thuộc tính của nhân cách. Trong đó: năng lực đồng nghĩa với "Tài", phẩm chất đồng nghĩa với "Đức", phẩm chất là điều kiện (đức là gốc), 18 năng lực là khả năng nhận thức những hoạt động nhất định và thực hiện có hiệu quả những hoạt động đó. Như vậy, các quan niệm trên đều thống nhất, năng lực là khả năng của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động ấy đạt hiệu quả cao. Từ cách tiếp cận trên đây có thể quan niệm: Năng lực sư phạm là tổng hòa các phẩm chất của cá nhân đáp ứng yêu cầu do nghề nghiệp sư phạm đặt ra, bảo đảm cho hoạt động sư phạm đạt được hiệu quả tốt nhất.
Dưới góc độ tâm lý học, năng lực sư phạm là sự tương thích giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của cá nhân với những yêu cầu do nghề nghiệp sư phạm đặt ra, được thể hiện trong xu hướng, tài nghệ và phong cách sư phạm của người giáo viên. Năng lực sư phạm là một loại hình năng lực nghề nghiệp. Năng lực sư phạm bị quy định bởi nhiều yếu tố. Trong đó các thuộc tính tâm, sinh lý của cá nhân, trình độ đào tạo và quá trình trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp sư phạm là những yếu tố quan trọng nhất, có vai trò chi phối các yếu tố khác.
Năng lực sư phạm không phải là những thuộc tính tự nhiên sẵn có mà được hình thành và phát triển trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội cụ thể. Nếu không được nuôi dưỡng, không có môi trường tương tác thích hợp thì những thuộc tính đó không những không thể trở thành năng lực thực tiễn mà còn bị thui chột đi. Năng lực sư phạm được hình thành, phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn sư phạm. Một trong những đặc điểm làm cho năng lực sư phạm không giống với những thứ năng lực khác là sự thâm nhập lẫn nhau giữa năng lực với phẩm chất.
Các phẩm chất đạo đức, nhân cách của nhà sư phạm là một bộ phận cấu thành năng lực sư phạm. Nói đến năng lực sư phạm là đã hàm chứa trong đó các phẩm chất đạo đức, nhân cách của nhà sư phạm.