Luận Văn Thạc Sĩ: Bồi Dưỡng Năng Lực Cảm Thụ Thẩm Mĩ Cho Học Sinh THCS Qua Dạy Học Thơ Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh trung học cơ sở qua dạy học thơ hồ chí minh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2020

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ

Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông, đặc biệt trong môn Ngữ văn. Năng lực này giúp học sinh nhận thức và đánh giá được vẻ đẹp của nghệ thuật, văn học, và thiên nhiên. Thơ Hồ Chí Minh, với những giá trị thẩm mĩ sâu sắc, là nguồn tài liệu quý giá để phát triển năng lực này. Qua việc phân tích các tác phẩm như 'Ngắm trăng' và 'Rằm tháng Giêng', học sinh được rèn luyện khả năng cảm nhận và đánh giá cái đẹp trong văn học và cuộc sống.

1.1. Giáo dục thẩm mĩ qua thơ Hồ Chí Minh

Thơ Hồ Chí Minh không chỉ mang giá trị tư tưởng mà còn chứa đựng những giá trị thẩm mĩ đặc sắc. Việc giảng dạy thơ của Người giúp học sinh tiếp cận với những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tinh tế, từ đó phát triển khả năng cảm thụ thẩm mĩ. Các bài thơ như 'Ngắm trăng' và 'Rằm tháng Giêng' là những ví dụ điển hình về cách Hồ Chí Minh sử dụng ngôn ngữ để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo nên sự hài hòa giữa nghệ thuật và cuộc sống.

1.2. Phát triển năng lực tư duy sáng tạo

Qua việc học thơ Hồ Chí Minh, học sinh không chỉ được rèn luyện khả năng cảm thụ thẩm mĩ mà còn phát triển tư duy sáng tạo. Việc phân tích và bình luận về các tác phẩm thơ giúp học sinh hình thành khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo trong cách tiếp cận và đánh giá văn học. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh THCS.

II. Phương pháp giảng dạy thơ Hồ Chí Minh

Để bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh THCS qua thơ Hồ Chí Minh, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và phù hợp. Các phương pháp như đọc diễn cảm, giảng bình, thảo luận nhóm, và so sánh sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn về giá trị thẩm mĩ trong thơ của Người. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ tạo nên hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy.

2.1. Đọc diễn cảm và giảng bình

Đọc diễn cảm là phương pháp giúp học sinh cảm nhận được nhịp điệu và âm hưởng của thơ, từ đó thấu hiểu sâu sắc hơn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Giảng bình là cách giáo viên phân tích, bình luận về các chi tiết trong bài thơ, giúp học sinh nhận ra những giá trị thẩm mĩ ẩn chứa trong từng câu chữ. Hai phương pháp này kết hợp sẽ tạo nên hiệu quả cao trong việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ.

2.2. Thảo luận nhóm và so sánh

Thảo luận nhóm giúp học sinh trao đổi, chia sẻ ý kiến về các tác phẩm thơ, từ đó phát triển khả năng tư duy phản biện và sáng tạo. So sánh là phương pháp giúp học sinh nhận ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các tác phẩm, từ đó hiểu sâu hơn về phong cách và giá trị thẩm mĩ của thơ Hồ Chí Minh. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và tư duy độc lập.

III. Thực nghiệm sư phạm và đánh giá

Thực nghiệm sư phạm là bước quan trọng để đánh giá hiệu quả của các phương pháp giảng dạy trong việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh THCS. Qua thực nghiệm, giáo viên có thể điều chỉnh và cải thiện phương pháp giảng dạy để đạt được kết quả tốt nhất. Kết quả thực nghiệm cũng là cơ sở để đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong việc cảm thụ và đánh giá thơ Hồ Chí Minh.

3.1. Kế hoạch thực nghiệm

Kế hoạch thực nghiệm được thiết kế dựa trên các bài thơ 'Ngắm trăng' và 'Rằm tháng Giêng' của Hồ Chí Minh. Giáo viên sẽ áp dụng các phương pháp giảng dạy như đọc diễn cảm, giảng bình, thảo luận nhóm, và so sánh trong quá trình dạy học. Thời gian thực nghiệm được tiến hành trong một học kỳ, với sự tham gia của học sinh lớp 7 và 8 tại các trường THCS ở Thái Nguyên.

3.2. Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy sự tiến bộ rõ rệt của học sinh trong việc cảm thụ và đánh giá thơ Hồ Chí Minh. Học sinh không chỉ hiểu sâu hơn về giá trị thẩm mĩ trong thơ của Người mà còn phát triển được khả năng tư duy sáng tạo và kỹ năng làm việc nhóm. Kết quả này khẳng định hiệu quả của các phương pháp giảng dạy được áp dụng trong thực nghiệm.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực Trong xã hội, từ xưa đến nay ta hay nhắc đến vấn đề năng lực. Tuynhiên, vấn đề năng lực lại chỉ được ngành giáo dục nước ta quan tâm trong những năm gần đây, khi nền giáo dục nước nhà đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng mới, khác hẳn với giáo dục trước đây - nghĩa là hướng đến hình thành và phát triển năng lực cho học sinh. Trước tiên, chúng ta cần phải có cái nhìn cụ thể nhất về năng lực thông qua khái niệm của nó.

Khái niệm năng lực Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.” Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm: năng lực “là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Trong các giáo trình tâm lý học, các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực. Trong đó, đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt.

Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc 9 tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo; những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động, đồng thời đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên, có thể định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…, năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.

Cấu trúc và các thành phần năng lực Trong chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực hiện nay, người GV cần phải xác định được cấu trúc và các thành phần năng lực, từ đó có hướng đi phù hợp, đúng đắn trong việc bồi dương, phát triển năng lực người học. Có nhiều loại năng lực khác nhau và việc mô tả cấu trúc, các thành phần năng lực cũng khác nhau. Ở đây chúng tôi tiếp cận theo cấu trúc các thành phần của năng lực. Cấu trúc này được mô tảlà sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.

Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các 10 nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn.

Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.

Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Cấu trúc bốn thành phần năng lực nêu trên là phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo quan điểm của UNESCO đưa ra: mỗi thành phần năng lực tương ứng với một trụ cột giáo dục. Năng lực chuyên môn là việc người học bổ sung vào vốn tri thức của bản thân các kiến thức lí thuyết về một môn học, một lĩnh vực nào đó, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn một cách hiệu quả (học để biết).

Năng lực phương pháp là khả năng tiếp nhận, xử lí các thông tin, tình huống trong bài học, để hình thành và phát triển năng lực này cần một quá trình lâu dài, cần sự kiên trì, nhẫn nại của người học (học để làm). Năng lực xã hội chính là khả năng tiếp xúc, giao tiếp và hợp tác với các cá thể xung quanh của người học. Năng lực cá thể hướng đến cá nhân người học trong việc phát triển bản thân một cách hoàn thiện (học để tự khẳng định). Tất cả được thể hiện thông qua hình ảnh dưới đây: 11 Như vậy, việc hình thành, bồi dưỡng và phát triển năng lực người học không chỉ hướng đến việc phát triển năng lực làm việc, nghiên cứu độc lập của cá nhân mà còn nói đến sự phối hợp, hợp tác với các cá thể khác trong quá trình học.

Người học không chỉ thông qua hoạt động học để khẳng định năng lực bản thân, không chỉ độc lập làm việc để thu thập tri thức mà trong quá trình ấy cần trau dồi cho bản thân các cách làm việc, cách nghiên cứu, phân tích, đánh giá và kể cả hợp tác với người học khác để cùng nhau nghiên cứu. Sự ưu việt của dạy học theo định hướng phát triển năng lực Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể 12 của quá trình nhận thức.Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học.

Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency). Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình.

Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra. Dưới đây là một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng phát triển năng lực: - Mục tiêu giáo dục: Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục - Nội dung giáo dục: Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết. - Phương pháp dạy học: + GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.

Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…; + Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành 13 - Hình thức dạy học: Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học - Đánh giá kết quả học tập của HS: Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn. Năng lực thẩm mỹ Nhắc đến việc đọc hiểu tác phẩm văn chương, không thể không nhắc đến năng lực thẩm mỹ. Muốn cảm nhận được toàn vẹn, sâu sắc hàm ý ẩn chứa bên trong mà mỗi nghệ sĩ gửi gắm qua ngôn từ, qua thế giới hình tượng, người thưởng thức văn học cần phải có năng lực thẩm mỹ. Bởi Ngữ văn là một môn học không chỉ có chức năng giáo dục, chức năng nhận thức mà còn có chức năng thẩm mỹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh THCS qua thơ Hồ Chí Minh" tập trung vào việc phát triển khả năng cảm nhận và đánh giá thẩm mỹ của học sinh trung học cơ sở thông qua các tác phẩm thơ ca của Hồ Chí Minh. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành nhân cách và tư duy sáng tạo cho học sinh. Bằng cách phân tích các bài thơ, tài liệu này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa và nghệ thuật mà còn khuyến khích các em phát triển khả năng tư duy phản biện và cảm xúc cá nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học và các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại qua thơ Nguyễn Duy Đồng Đức Bốn Phạm Công Trứ, nơi khám phá văn hóa và nghệ thuật trong thơ ca, hay Luận văn thạc sĩ yếu tố ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn trên 3 bình diện thể thơ giọng điệu và hệ thống đề tài, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố văn hóa trong thơ ca. Ngoài ra, Luận văn đặc điểm thơ viễn phương cũng là một tài liệu thú vị để tìm hiểu về các đặc điểm nghệ thuật trong thơ ca hiện đại. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về văn học và nghệ thuật, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ thẩm mỹ của bản thân.