phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận bồi dƣỡng cho giáo viên THCS về giáo dục KNS theo quan điểm SPTH Chƣơng 2: Thực trạng bồi dƣỡng cho giáo viên THCS về giáo dục KNS theo quan điểm SPTH Chƣơng 3: Bồi dƣỡng cho giáo viên THCS về giáo dục KNS theo quan điểm SPTH thông qua E-Learning Luận án tiến sĩ Giáo dục 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN BỒI DƢỠNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG THEO QUAN ĐIỂM SƢ PHẠM TÍCH HỢP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống theo quan điểm sư phạm tích hợp Công tác bồi dƣỡng, phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ dừng lại ở thông điệp của tổ chức UNESCO mà còn là chƣơng trình hành động đã và đang đƣợc chú trọng, phổ biến ở nhiều quốc gia. Giáo dục KNS là hoạt động giáo dục thúc đẩy quá trình phát triển của cá nhân và xã hội, hoạt động này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của các em.
Theo tài liệu của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), hiện nay có hơn 150 nƣớc đã đƣa giáo dục KNS vào nhà trƣờng và đã thực hiện giáo dục KNS cho học sinh với các phƣơng thức khác nhau. Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS đƣợc các nhà Tâm lý học thực hành đƣa ra và coi đó nhƣ một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân. Đến năm 1979, Gilbert Botvin - nhà Tâm thần học ngƣời Mỹ đã công bố một chƣơng trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên với một hệ thống các kĩ năng xã hội nhƣ: quyết đoán, tƣ duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gây nghiện. Chƣơng trình này đã mang lại kết quả cao và đƣợc sự quan tâm của nhà trƣờng.
Do đó, ở các nƣớc phát triển giáo dục KNS đã đƣợc đƣa vào nhà trƣờng từ rất sớm nhằm giúp các em có lối sống lành mạnh và tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bƣớc vào tuổi trƣởng thành. Tại Mỹ La tinh, năm 1996 đã tổ chức hội thảo về giáo dục KNS nhằm đẩy mạnh việc giáo dục sức khỏe con ngƣời trong nhà trƣờng và coi đó nhƣ những ƣu tiên của mạng lƣới y tế. Ở khu vực châu Á, đƣợc sự tài trợ của các tổ chức UNICEF, UNESCO…dựa vào các cách tiếp cận khác nhau trong từng lĩnh vực cụ thể mà các chƣơng trình giáo dục Luận án tiến sĩ Giáo dục 12 KNS đƣợc triển khai rộng khắp nhằm phát triển kĩ năng cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng. Mặc dù cùng xuất phát từ quan niệm chung về giáo dục KNS của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay của UNESCO nhƣng việc giáo dục KNS ở các nƣớc là không giống nhau, nó vừa thể hiện nét chung vừa thể hiện tính đặc thù của từng quốc gia.
Cho nên, việc phát triển giáo dục KNS cho thanh thiếu niên ở các nƣớc cũng khác nhau. Một số nƣớc chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội, nghĩa là KNS chỉ dành cho một số nhóm đối tƣợng có nguy cơ cao để đƣơng đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi ngƣời. Một số nƣớc thì sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn nên KNS đƣợc phát triển cho mọi đối tƣợng để mọi ngƣời có thể vận dụng vào giải quyết những vấn đề xã hội trong hoàn cảnh và tình huống khác nhau. Nhƣ vậy, KNS đƣợc quan niệm là những kĩ năng, kiến thức, thái độ giúp ngƣời học sống một cách độc lập, tất cả mọi ngƣời đều cần đƣợc giáo dục KNS vì ai cũng có những vấn đề cần phải giải quyết.
Về vấn đề này, các nƣớc cũng chỉ mới bƣớc đầu triển khai giáo dục KNS nên nội dung chƣa mang tính toàn diện, chƣa sâu sắc và chƣa có tiêu chí đánh giá chất lƣợng giáo dục KNS một cách cụ thể về chƣơng trình cũng nhƣ hiệu quả thực hiện. Vấn đề giáo dục KNS ở Việt Nam đƣợc biết đến từ khi có chƣơng trình của UNICEF với chủ đề “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng” do các chuyên gia ngƣời Úc tập huấn vào năm 1996. Sau đó, chƣơng trình tập huấn KNS đƣợc mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS” với sự tham gia của Trung ƣơng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Đa số mọi ngƣời đều cho rằng, KNS là những kĩ năng dành cho một số nhóm đối tƣợng có nguy cơ cao cần cho việc bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội.
Nhƣng bên cạnh đó, cũng có những quan niệm rất sâu sắc cho rằng KNS là những kĩ năng có thể giúp con ngƣời vận dụng vào để giải quyết các vấn đề khác nhau của bản thân và xã hội trong từng Luận án tiến sĩ Giáo dục 13 hoàn cảnh với từng đối tƣợng cụ thể. Về lĩnh vực này, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu rất đầy đủ và sâu sắc về giáo dục KNS theo hƣớng tiếp cận KNS trong giáo dục. Cách tiếp cận này sẽ giúp cho những ngƣời làm công tác giáo dục tiến hành quá trình giáo dục một cách hài hòa kết hợp giữa kiến thức, thái độ, giá trị và hành vi để có năng lực đáp ứng những yêu cầu của xã hội. Theo đó, nội dung giáo dục KNS trong nhà trƣờng ở các bậc học đƣợc thực hiện cụ thể nhƣ: + Trong nội dung giáo dục phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật và thẩm mỹ của chƣơng trình giáo dục mầm non mới đã chú ý giáo dục cho trẻ các vấn đề về KNS.
+ Ở tiểu học, giáo dục KNS tập trung ở các kĩ năng cơ bản nhƣ đọc, viết, tính toán, nghe, nói và coi trọng việc hình thành cho các em những kĩ năng để có thể thích ứng với cuộc sống. + Đối với giáo dục THCS chú trọng giáo dục cho các em hình thành năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử.và định hƣớng cho các em phát triển theo mục tiêu của bốn trụ cột giáo dục. + Đối với các bậc học cao hơn, giáo dục KNS chủ yếu đƣợc thực hiện thông qua chƣơng trình các môn học và các hoạt động giáo dục trong nhà trƣờng [18]. Tác giả Nguyễn Công Khanh với nghiên cứu về “Phƣơng pháp giáo dục giá trị sống, KNS” đã chia sẻ những nội dung về vấn đề giúp ngƣời học khám phá bản thân, phƣơng pháp giáo dục giá trị sống và một số KNS cần thiết đối với học sinh ở lứa tuổi mới lớn.
Thông qua những tình huống, những câu chuyện…ngƣời học có thể tự rút ra những bài học kinh nghiệm, những giá trị sống, những KNS…để khám phá, để suy ngẫm nhằm định hƣớng cho bản thân những hành động phù hợp [51]. Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học, nhiều đề tài khoa học, luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS cho học sinh ở các bậc học ở các khía cạnh khác nhau với những KNS cụ thể: cẩm nang tổng hợp hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Nhân Văn (2002); KNS cho tuổi vị Luận án tiến sĩ Giáo dục 14 thành niên; một số cơ sở tâm lý của việc giáo dục KNS cho học sinh; một số nghiên cứu so sánh giáo dục KNS của Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới và giáo dục KNS cho học sinh ở các bậc học thông qua các môn học hoặc các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu và các tài liệu trên chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu các cách tiếp cận giáo dục KNS và vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ. Những công trình nghiên cứu trên đây cho thấy mặc dù hoạt động giáo dục KNS đã đƣợc định hƣớng rõ trong mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp giáo dục nhƣng việc triển khai hoạt động này trong các nhà trƣờng còn nhiều hạn chế khó khăn, đặc biệt là đội ngũ giáo viên, những ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn các em rèn luyện KNS.
Giáo dục giá trị sống, KNS và thói quen sống chính là con đƣờng hiệu quả để giải quyết những vấn đề khủng hoảng trong nhân cách của học sinh đồng thời định ra những giá trị sống mới phù hợp định hƣớng phát triển của xã hội. Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập đến việc bồi dƣỡng cho giáo viên về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Đây là vấn đề mà lâu nay các nhà khoa học nghiên cứu để tìm cách giải quyết, trong đó khâu tổ chức bồi dƣỡng cho giáo viên là rất quan trọng vì đây là lực lƣợng nòng cốt góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện cho học sinh. Ngày nay, việc xây dựng nguồn nhân lực giáo dục có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của hệ thống giáo dục mà còn tác động tới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội.
Trong nhà trƣờng phổ thông, công tác bồi dƣỡng phát triển đội ngũ nhà giáo có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến kết quả dạy học và giáo dục học sinh. Do vậy, vấn đề bồi dƣỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo không chỉ là vấn đề mang tính lí luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục. Cho nên cần phải xem lại chức năng truyền thống của ngƣời giáo viên là truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ. Giáo viên phải biết dạy tích hợp các khoa học, dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, đặc biệt là biết vận dụng các Luận án tiến sĩ Giáo dục 15 kiến thức học đƣợc trong việc xử lí các tình huống của đời sống thực tế [16, tr.
Bên cạnh đó, dạy học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở ngƣời học những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn [12]. Ngày nay càng có nhiều nội dung giáo dục đƣợc tích hợp vào nội dung một số môn học ở trung học (dân số, môi trƣờng, phòng chống HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, giáo dục KNS, an toàn giao thông.) bằng phƣơng thức lồng ghép.