MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đất nƣớc ta có một nền giáo dục dân tộc hình thành từ lâu. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Từ năm 1930 trên mặt trận giáo dục, sự lãnh đạo của Đảng luôn kịp thời, sắc bén, điều này thể hiện rõ qua ba cuộc cải cách giáo dục về mọi mặt của nƣớc ta từ năm 1950 đến nay.
Hiện nay đất nƣớc ta đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế quốc tế, nhân tố quyết định thắng lợi của các công cuộc này chính là nguồn lực con ngƣời, nguồn nhân lực trẻ, có năng lực, sức sáng tạo, sự cần cù và chịu khó…. Nhận thấy đƣợc vai trò quan trọng của nguồn lực này, đất nƣớc ta đã và đang đi vào xây dựng xã hội học tập để chuẩn bị cho việc xây dựng một nền kinh tế tri thức nhằm phát triển cả về số lƣợng và chất lƣợng. Xét trên cơ sở mặt bằng dân trí cao thì việc này đƣợc bắt nguồn từ giáo dục. Đã từ lâu, trong các kỳ đại hội Đảng, giáo dục đào tạo luôn đƣợc khẳng định là quốc sách hàng đầu.
Mặc khác, đứng trƣớc sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, thông tin liên lạc trên thế giới, đòi hỏi sự thay đổi vô cùng to lớn về yếu tố con ngƣời. Trong xã hội mới, tri thức là yếu tố quyết định, con ngƣời là lực lƣợng sản xuất cơ bản nhất, do đó giáo dục con ngƣời đóng vai trò then chốt trong sự phát triển, và gián tiếp tạo nên sự hùng mạnh về kinh tế của một quốc gia. Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con ngƣời tham gia cũng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong con ngƣời đó. Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của ngƣời đó trong một tình huống nhất định.
Điều này khẳng định vị trí của đánh giá trong quá trình tạo ra sự biến đổi rất quan trọng. Tuy nằm cuối quá trình nhƣng không vì thế mà kiểm tra, đánh giá giảm đi giá trị của nó trong quá trình. Môn học Văn hóa ẩm thực Việt Nam và thế giới hiện đang đƣợc giảng dạy tại trƣờng Đại học Sài Gòn là môn học lý thuyết, nội dung môn học thể hiện diện mạo của Văn hóa ẩm thực Việt Nam và thế giới một cách toàn diện, đại quát và cơ 1 Luan van bản. Hầu nhƣ tất cả những vấn đề cơ bản nhất của Văn hóa ẩm thực Việt Nam nói riêng đã đƣợc đề cập đến trong môn học này.
Nói đến ẩm thực, đặc biệt là ẩm thực Việt Nam là một đề tài rất rộng, Văn hóa ẩm thực Việt Nam là một nội dung hiện đang đƣợc chú ý khai thác và nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực nhƣ thƣơng mại du lịch, dịch vụ ăn uống, hay trong ngành văn hoá, xã hội.Tuy nhiên, cho đến hôm nay hình thức kiểm tra, đánh giá cho môn học này vẫn theo hình thức tự luận là chủ yếu. Nhận thấy đây là môn học đòi hỏi ở ngƣời học phải có kiến thức sâu và rộng về mỗi nội dung đƣợc học, nên ngƣời nghiên cứu đã chọn đề tài: “ Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam tại trƣờng đại học Sài Gòn” với mong muốn giúp cho quá trình dạy học ở môn học này nói riêng đạt đƣợc hiệu quả, mục tiêu đã đề ra. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam, góp phần vào việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy môn học tại trƣờng Đại học Sài Gòn. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu cơ sở lý luận về trắc nghiệm, quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm.
- Khảo sát thực trạng dạy học môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam tại trƣờng Đại học Sài Gòn, từ đó tìm ra nguyên nhân của thực trạng. - Xây dựng câu hỏi TN đánh giá kết quả học tập môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam ở ngƣời học. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Nếu xây dựng đƣợc bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra đánh giá khách quan kết quả học tập của ngƣời học, thuận lợi cho việc tổ chức thi cử trong quá trình dạy học. Nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam.
ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5. Đối tƣợng nghiên cứu: Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam. Khách thể nghiên cứu: - Mục tiêu, nội dung đề cƣơng chi tiết môn học Văn hóa ẩm thực Việt Nam. - Quá trình dạy học môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam của trƣờng Đại học Sài Gòn.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản pháp lý, các tài liệu liên quan về cơ sở lý luận để xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam. Phƣơng pháp thử nghiệm: Thử nghiệm các câu hỏi trong điều kiện thực tế để xác định tính khả thi của bài thi khi áp dụng vào thực tiễn, phân tích các câu trắc nghiệm để trên cơ sở đó tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với các yêu cầu khi xây dựng bộ câu hỏi. Phƣơng pháp thống kê, phân tích dữ liệu: Thống kê, tổng hợp các số liệu của quá trình thử nghiệm để trên cơ sở đó phân tích các câu trắc nghiệm, đồng thời đƣa ra kết luận điều chỉnh nội dung nghiên cứu.
Phƣơng pháp tổng hợp ý kiến: Trao đổi, phát phiếu khảo sát lấy ý kiến của các chuyên gia, giáo viên, sinh viên trong ngành về bộ câu hỏi. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Do thời gian nghiên cứu có hạn nên ngƣời nghiên cứu chỉ thực hiện đề tài với nội dung sau: Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Văn hóa ẩm thực Việt Nam dựa trên giáo trình môn học của trƣờng Đại học Sài Gòn. Đồng thời ngƣời nghiên cứu xin giới hạn bộ câu hỏi chỉ biên soạn theo hình thức trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, Bộ câu hỏi sẽ đƣợc thử nghiệm trên các lớp: DVI1082; DVI1081; DVI1083; CVI1091; CVI1092; CVI1093; DVI1092; DVI1093; DVI1091; thuộc trƣờng Đại học Sài Gòn. Bộ câu hỏi đƣợc xử lý bằng phần mềm Excel và xét độ khó, độ phân cách và phân tích mồi nhử của câu hỏi để đƣa ra kết luận.
3 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VIỆC XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ buổi sơ khai của khoa học và lịch sử loài ngƣời, trong quá trình lao động, con ngƣời đã sử dụng các phép đo lƣờng ở mọi mặt của cuộc sống một cách đơn giản, bộc phát tƣởng chừng nhƣ thô thiển. Về sau với sự phát triển của một số ngành khoa học thì độ chính xác trong phép đo ấy cũng nâng cao. Việc dạy và học xuất hiện trong lịch sử loài ngƣời hàng nghìn năm trƣớc đây, trong lịch sử giáo dục (GD), nhằm giúp nhà vua đánh giá đúng hiền tài, triều đình phải tổ chức các kỳ thi từ thấp đến cao, năng lực của sĩ tử đƣợc đo lƣờng qua các bài thi dựa vào sự nhận xét chủ quan cá nhân ngƣời chấm.
Việc học và thi trên thế giới đã diễn ra từ rất lâu, nhƣng một khoa học về đo lƣờng trong GD thật sự có thể xem nhƣ bắt đầu cách đây chỉ khoảng hơn một thế kỷ. Trắc nghiệm (TN) xuất hiện từ thế kỉ 19, do một nhà khoa học ngƣời Mỹ J.Catlen (1860-1944) cho ra đời cuốn sách “Các trắc nghiệm về đo lƣờng trí tuệ” xuất bản năm1890 tại NewYork nhằm đánh giá trí thông minh của con ngƣời. Sau đó, nhà tâm lý học ngƣời Pháp Alfred Binet và bác sĩ tâm thần Theodore Simon làm TN nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau vào năm 1905. Trong thế kỷ XX, khoa học về đo lƣờng trong GD phát triển xuất phát từ Châu Âu nhƣng phát triển mạnh khi du nhập vào Hoa Kỳ.
Cho đến thập niên 1970 thì khoa học về đo lƣờng trong GD phát triển tƣơng đối hoàn chỉnh trong khuôn khổ một lý thuyết đƣợc gọi là lý thuyết TN cổ điển (classical test theory – CTT) đã đạt đƣợc một số thành tựu, tạo cơ sở khoa học để thiết kế các phép đo tƣơng đối chính xác. Tại Việt Nam (VN), Giáo sƣ (GS) Dƣơng Thiệu Tống đã xuất bản cuốn sách về TN cổ điển có tên gọi là Trắc nghiệm và Đo lƣờng trong thành quả học tập. 4 Luan van Trong lĩnh vực GD, đánh giá cho phép chúng ta xác định mục tiêu GD đặt ra có phù hợp và có đạt đƣợc hay không, việc giảng dạy có thành công hay không, học viên có tiến bộ không. Để đánh giá đƣợc đúng đắn cần phải triển khai đo lƣờng.
Tuy nhiên, lý thuyết TN cổ điển theo thời gian vẫn không tránh khỏi sự xuất hiện của một số hạn chế. Trƣớc thực tế này, các nhà tâm trắc học trên thế giới đã cố gắng tìm một lý thuyết mới để kế thừa và khắc phục các nhƣợc điểm của CTT, và TN hiện đại, lý thuyết Ứng đáp câu hỏi (Item Response Theory – IRT) ra đời.1 Trên thế giới Việc đo lƣờng và đánh giá trong GD đã phát triển từ xƣa. Tuy nhiên, có thể nói một ngành khoa học thật sự về đo lƣờng trong tâm lý và GD mới bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ thứ XIX, đến năm 60 – 70 của thế kỷ XX mới có công trình lý thuyết đặt nền tảng khoa học vững chắc nhằm thỏa mãn các yêu cầu cơ bản của khoa học về đo lƣờng trong tâm lý và GD. Hoa Kỳ Ở Mỹ, lĩnh vực khoa học về TN phát triển mạnh trong thế kỷ thứ XX.
Có thể kể những dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của TN nhƣ: Năm 1905 nhà tâm lí học ngừời Pháp Alfred Binet và bác sĩ Theodore Simon làm trắc nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau, tiếp đến đƣợc áp dụng tại Đại học (ĐH) Stanford ở Mỹ bởi Lewis Terman năm 1916, sau đó đã đƣợc cải tiến và sử dụng liên tục cho đến hôm nay với tên gọi là Trắc nghiệm trí tuệ IQ (Intelligence Quotient). Bộ TN thành quả học tập tổng hợp đầu tiên của Stanford Achievement Test ra đời năm 1923 ở Mỹ.