Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA, VĂN HỌC CHĂM 1. Về hoạt động sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc Chăm Việc các nhà thơ dân tộc thiểu số đi vào khám phá đời sống văn hoá dân tộc đồng thời thể hiện tiếng nói riêng của dân tộc mình đã làm mới và phong phú thêm nền văn học đương đại Việt Nam. Nằm trong mạch nguồn chung đó, các nhà thơ Chăm đã mang đến cho nền văn học của chúng ta một thế giới Chăm đầy bản sắc. Trong thời gian gần đây, mảnh đất Chăm màu mỡ cũng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu văn hoá, văn học từ Nam chí Bắc, trong nước và nước ngoài.
Có thể kể đến hàng loạt các công trình nghiên cứu về văn hoá xã hội và văn học Chăm pa. Trong Tổng luận về nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xã hội và giáo dục Chăm ở Việt Nam, Bá Minh Tuyền đã trình bày tương đối đầy đủ về hoạt động sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu lịch sử, văn hóa và văn học dân tộc Chăm [89,tr 201- 217]. Chúng tôi tóm lược như sau: Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, lịch sử vương quốc Champa đã thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, công bố thành sách, tạp chí. Sau năm 1975, xuất hiện các tác giả Việt Nam, không dừng lại ở việc tìm tòi, bổ sung thêm tư liệu mà còn khám phá ra cái mới lấp vào khoảng thiếu sót của các nhà nghiên cứu tiên phong chưa làm được.
Những công trình về sau đã đi vào từng mảng, lĩnh vực thuộc đời sống, văn hóa, xã hội, lễ hội, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, số lượng tác giả là người Chăm cũng gia tăng ngày càng đông đảo trong đội ngũ các nhà khoa học, trình bày về các vấn đề liên quan đến tộc người Chăm trên cơ sở khai thác văn bản viết - Akhar thrah - đang lưu trữ ở gia đình và làng quê Chăm. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Trước hết là những ghi chép về Champa trong lịch sử Trung Quốc được tìm 6 thấy trong các bộ sử Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống sử… Các nhà nghiên cứu đều dựa vào những nguồn sử liệu này để dựng lại lịch sử Lâm Ấp-Hoàn Vương-Chiêm Thành. Những tư liệu của Trung Quốc viết về phong tục tập quán của người Chăm xưa không có tính hệ thống, rời rạc và sơ sài, nhiều khi thiếu chính xác.
Ma Touan Lin (Mã Đoàn Lâm), một sử gia Trung Quốc thế kỉ XIII có ghi: “Dân cư xây tường nhà bằng gạch, bao bọc bằng một lớp vôi. Nhà cửa đều có sân gọi là Kalan. Cửa ra vào thường hướng về phía Bắc, đôi khi hướng về phía Đông-Tây, không có quy luật nhất định nào cả” [5,17]. Nhưng thực tế, người Chăm không làm nhà hay đền tháp quay về hướng Bắc hay hướng Tây.
Vì quan niệm Chăm cho rằng: hướng Bắc là hướng của ma quỷ, hướng Tây là hướng “chết”. Với cách nhìn bằng con mắt “Thiên triều” của một nước lớn, các triều đại Trung Hoa, lấy mình làm “Trung tâm”, nhìn bốn phía đều là chư hầu “mọi rợ”: Đông di, Tây nhung, Nam man, Bắc địch nên những sử gia Trung Hoa trước đây đã ghi lại những tư liệu không chính xác đối với những nước phải hàng năm tiến cống Thiên triều cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên, những ghi chép đó ở một chừng mực nhất định vẫn giúp cho nhà nghiên cứu có được sự hiểu biết căn bản về Champa, khẳng định đã có một vương quốc Champa xuất hiện sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á vào cuối thế kỉ thứ II. Kế đến là những nghiên cứu, khảo sát thực địa của người Pháp.
Tư liệu cổ nhất của người Châu Âu viết về người Chăm có lẽ là của một người gốc Italia tên là Marco Polo. Ông làm quan dưới triều đại Mông-Nguyên của Hốt Tất Liệt. Năm 1298, sau một lần được cử đi làm sứ giả ở một số nước Đông Nam Á, trong đó có Champa, ông đã ghi chép khá tỉ mỉ về người Chăm và đời sống của họ trong cuốn Lelivre de Marco Polo(cuốn sách của Marco Polo) [5,18]. Vào thế kỉ XIV, một số linh mục đi truyền giáo đã đến Champa.
Linh mục Odoric de Pordennone có ghi chép về phong tục, tập quán của người Chăm trong cuốn sách Những cuộc viễn du sang châu Á xuất bản tại Paris. Từ thế kỉ XIX đến thế kỉ XX, hàng loạt các công trình nghiên cứu về văn 7 hóa Chăm của người Pháp được công bố như công trình của J. Những công trình của người Pháp tập trung nhiều vào lĩnh vực ngôn ngữ, văn bia, khảo cổ học, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đền tháp, lịch sử, bang giao, đến tín ngưỡng, tôn giáo. Nhìn chung, hướng nghiên cứu chủ yếu vào văn hóa vật chất chưa chú ý đúng mức đến đời sống xã hội người Chăm trong lịch sử.
Tuy vậy đó là những công trình kinh điển, chuẩn mực, mang tính khoa học cao giúp cho sự hiểu biết về đất nước Champa và người Chăm. Tiếc rằng, những nghiên cứu của người Pháp về đề tài lịch sử, văn hóa Chăm bị đã đứt đoạn khá dài do tình trình trạng chiến tranh ở Việt Nam trong khoảng thời gian 20 năm (1954-1975). Nghiên cứu của các tác giả người Việt Những tư liệu lịch sử của Việt Nam liên quan đến Chiêm Thành có thể tìm thấy trong Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư và một số sử liệu của các triều đại Việt Nam từ Lý-Trần đến triều Nguyễn. Nhưng những sử liệu nói trên chủ yếu nói về việc triều cống, giao tranh, hòa hiếu.
Mặc dù vậy, đó là những ghi chép thành văn chính thống rất quan trọng để đối chiếu với ghi chép trên văn bia của Champa. Từ năm 1955 đến năm 1975, các tác giả Nghiêm Thẩm, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Bạt Tụy, Thái Văn Kiểm, v.v… [5,25] công bố nhiều bài viết có giá trị về văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng và tôn giáo Chăm. Tiêu biểu như Nguyễn Khắc Ngữ với Mẫu hệ Chàm (1967), Nguyễn Văn Luận với Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần (1974). Phan Lạc Tuyên đã bảo vệ luận án tiến sĩ ở Ba Lan về văn hóa Chăm có tên Việt Nam và Champa sự phát triển lịch sử của mối tương quan giữa hai nền văn minh.
Tác giả Nguyễn Đình Toàn với chuyên khảo Giang sơn Việt Nam có giá trị nghiên cứu về địa văn hóa vùng đồng bào Chăm đang sinh sống: Non nước Phú Yên (1966), Non nước Khánh Hòa (1969), Non nước Ninh Thuận (1974). Ở đó, có một số trang viết về người 8 Chăm và văn hóa Chăm [5,27]. Sau năm 1975, nghiên cứu về người Chăm được các nhà khoa học Việt Nam chú ý nhiều thêm. Tác phẩm Những vấn đề dân tộc học miền Nam Việt Nam (1978) do Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, là sự tiếp xúc đầu tiên của các nhà khoa học xã hội Việt Nam với văn hóa Chăm.
Đây là công trình khảo sát dân tộc học có giá trị với sức mạnh tổng hợp của nhiều chuyên ngành khác nhau mà khi nghiên cứu về văn hóa Chăm không thể bỏ qua [5,29]. Công trình Người Chăm ở Thuận Hải (1989) quy tụ 10 nhà khoa học thực hiện đã nêu lên một số vấn đề cơ bản về kinh tế nông nghiệp, ngành nghề thủ công, dân số, tổ chức xã hội truyền thống, hôn nhân gia đình, tín ngưỡng tôn giáo và những bước hòa nhập của người Chăm trên con đường xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa. Đây là công trình khảo sát có tính chất tổng hợp về đời sống vật chất lẫn tinh thần của người Chăm. Công trình Văn hóa Chăm (1992) [11] nghiên cứu toàn diện hơn về hoạt động của người Chăm ở Việt Nam.
Mặc dù, các tác giả chưa phân tích sâu và làm nổi bật về ý nghĩa các giá trị văn hóa nhưng việc mô tả, giới thiệu các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội và văn hóa Chăm là cần thiết. Đặc biệt công trình đã làm rõ nguồn gốc của người Chăm. Công trình Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số phía Nam (1993) đã đặt ra vấn đề giáo dục tiếng dân tộc thiểu số thực trạng và giải pháp. Trong đó có bài viết Vấn đề chữ viết Chăm hiện nay của Phú Văn Hẳn [41,115].
Tác giả Ngô Văn Doanh có cuốn sách Văn hóa Chămpa (1994), Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm(1998), Thánh địa Mỹ Sơn (2003), Lễ hội chuyển mùa của người Chăm (2006), Tháp Bà Thiên Ya Na hành trình của một nữ thần (2009) cùng nhiều bài viết khác đăng trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những tác phẩm kể trên đã trình bày và phân tích nhiều lễ hội văn hóa do người Chăm tiến hành hàng năm theo định kì. 9 Trong cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) của Trần Ngọc Thêm có phần khảo cứu chuyên biệt về văn hóa Chăm nói về nhữnh ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở người Chăm. Cùng chủ đề này, Phan Lạc Tuyên với công trình Nghiên cứu và điền dã (2007) đã khái quát về phong tục, nghệ thuật và những lễ hội truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận.
Riêng lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến như Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Minh Ngọc trong công trìnhNgười Chăm những nghiên cứu bước đầu (2003) có nội dung chính nói về người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam [163,29]. Phan Quốc Anh có Nghi lễ vòng đời người của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận (2006). Hoàng Minh Đô chủ biên tác phẩm Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận (2006) chứa đựng nhiều tư liệu về chính sách của Đảng – Nhà nước và số liệu báo cáo về tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm. Tác giả đưa ra các kiến nghị về chính sách tôn giáo đối với người Chăm [163,163].
Nguyễn Hồng Dương chủ biên công trình Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay (2007). Đồng tác giả Ngô Thị Chính – Tạ Long trong cuốn sách Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế-xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận (2007) đã phân tích bốn yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Chăm. Đó là: Yếu tố tộc người với sự phát triển kinh tế, yếu tố tộc người tác động đến sự vận động và biến đổi của xã hội Chăm, yếu tố tôn giáo và các yếu tố chi phối quan hệ cộng đồng tộc người Chăm.