Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Biểu tượng văn hóa Chăm trong thơ Chăm đương đại"

  • Tác giả (Nghiên cứu sinh): Trần Hoài Nam
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Nguyễn Nghĩa Trọng
  • Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
  • Chuyên ngành: Lí luận văn học (Mã số: 62.20)
  • Năm bảo vệ: 2017
  • Định hướng nghiên cứu: Định tính (tiếp cận thi pháp học, văn hóa học, ký hiệu học và phân tích văn bản nghệ thuật).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam đương đại, văn học của các dân tộc thiểu số ngày càng khẳng định vị trí bên cạnh dòng văn học của người Kinh. Trong đó, thi ca Chăm đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận với sự xuất hiện của gần 100 tác giả, tiêu biểu như: TT Tuệ Nguyên (Michelia), Trà Ma Hani, Trà Vigia, Trần Wũ Khang, Jalau Anưk, Bá Minh Trí, Chế Mỹ Lan, Diễm Sơn, Huy Tuấn, Huyền Hoa, Inrasara, Jalau, Kahat, Lộ Trung Thiện, MihTơm, Quỳnh Chi, Simhapura, Sonputra, Thạch Giáng Hạ, Trà Thy Mưlan, Trầm Ngọc Lan, Đồng Chuông Tử, Cahya Mưlơng, Đặng Tịnh, Hlapah, Jaya Hamu Tanran, Jaya Yut Cam, Minh Trí, Phú Đạm, Phutra Noroya...

Văn hóa và văn học Chăm trong lịch sử sở hữu nhiều giá trị đặc trưng qua các thể loại cổ điển như Akayet (sử thi), Ariya Cam (trường ca), Glơng Anak, Pauh Catwai... Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn hóa, văn học dân tộc Chăm, đặc biệt là nền thi ca Chăm đương đại từ giác độ lí luận văn học và văn hóa học, vẫn còn nhiều khoảng trống. Các nghiên cứu trước đây về biểu tượng văn hóa Chăm trong văn học chủ yếu dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ hoặc khảo sát trường hợp đơn lẻ (chủ yếu là Inrasara), chưa có công trình quy mô nào xác định rõ nội hàm thuật ngữ và giải mã hệ thống biểu tượng văn hóa trong toàn bộ diện mạo thơ Chăm đương đại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Làm sáng tỏ phương diện chủ đề và hệ thống biểu tượng văn hóa trong thơ Chăm đương đại giai đoạn từ năm 1990 đến nay.
    2. Làm rõ hệ tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ chi phối thơ ca Chăm đương đại dưới góc nhìn văn hóa học, góp phần xác định các quy luật trong tiến trình vận động của văn hóa và văn học dân tộc Chăm.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xác lập hệ thống cơ sở lí thuyết về biểu tượng, biểu tượng văn hóa, biểu tượng văn học, cơ chế hình thành biểu tượng từ ngôn từ nghệ thuật, cùng các đặc điểm, bản chất và chức năng của biểu tượng.
    2. Phân loại, phân tích hệ thống và giải mã các biểu tượng văn hóa Chăm (bao gồm biểu tượng truyền thống và biểu tượng có tính cách tân) trong thơ Chăm đương đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống biểu tượng văn hóa Chăm trong thơ Chăm đương đại.
  • Phạm vi tư liệu và không gian: Các sáng tác của những nhà thơ người Chăm đương đại tiêu biểu được xuất bản trên sách báo giấy và các trang mạng tin cậy trong khoảng 20 năm trở lại đây. Trong đó, thơ Inrasara chiếm số lượng lớn và giữ vị trí trung tâm khảo sát do vị thế tiêu biểu về số lượng và chất lượng tác phẩm.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các sáng tác từ năm 1990 đến thời điểm thực hiện luận án (2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và văn học Chăm qua 4 nhóm tư liệu chính:

1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

  • Sử liệu Trung Quốc: Các ghi chép về Champa trong Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống sử giúp tái dựng các thời kỳ Lâm Ấp - Hoàn Vương - Chiêm Thành. Ghi chép của sử gia Mã Đoàn Lâm (Ma Touan Lin, thế kỷ XIII) ghi nhận phong tục làm nhà, đền tháp (Kalan), dù có những sai lệch do góc nhìn trung tâm phong kiến Trung Hoa nhưng đã khẳng định sự tồn tại sớm của vương quốc Champa từ cuối thế kỷ II.
  • Tư liệu phương Tây: Ghi chép của Marco Polo (1298) trong Lelivre de Marco Polo; linh mục Odoric de Pordennone (thế kỷ XIV) trong cuốn Những cuộc viễn du sang châu Á; cùng các công trình nghiên cứu khảo cổ học, kiến trúc, điêu khắc, văn bia, tôn giáo của các học giả người Pháp (như J. Boisselier, H. Parmentier, G. Maspero...) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX.

2. Nghiên cứu của các tác giả người Việt

  • Sử liệu trung đại: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí phản ánh lịch sử bang giao, chiến tranh và hòa hiếu.
  • Giai đoạn 1955–1975: Nghiêm Thẩm, Nguyễn Khắc Ngữ (Mẫu hệ Chàm, 1967), Nguyễn Văn Luận (Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần, 1974), Phan Lạc Tuyên (Việt Nam và Champa sự phát triển lịch sử của mối tương quan giữa hai nền văn minh), Nguyễn Đình Toàn (Non nước Phú Yên, 1966; Non nước Khánh Hòa, 1969; Non nước Ninh Thuận, 1974).
  • Giai đoạn sau năm 1975:
    • Những vấn đề dân tộc học miền Nam Việt Nam (Viện Khoa học Xã hội tại TP.HCM, 1978); Người Chăm ở Thuận Hải (1989); Văn hóa Chăm (1992); Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số phía Nam (1993, bài của Phú Văn Hẳn).
    • Ngô Văn Doanh với chuỗi công trình: Văn hóa Chămpa (1994), Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm (1998), Thánh địa Mỹ Sơn (2003), Lễ hội chuyển mùa của người Chăm (2006), Tháp Bà Thiên Ya Na hành trình của một nữ thần (2009).
    • Trần Ngọc Thêm (Cơ sở văn hóa Việt Nam, 1999); Phan Lạc Tuyên (Nghiên cứu và điền dã, 2007); Phan Quốc Anh (Nghi lễ vòng đời người của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận, 2006); Hoàng Minh Đô (Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, 2006); Nguyễn Hồng Dương (2007); Ngô Thị Chính – Tạ Long (Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế-xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, 2007); Trần Quốc Vượng; Trương Sỹ Hùng (Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam Á, 2010); Huỳnh Công Bá (Lịch sử Việt Nam, 2004); Nguyễn Quang Ngọc (Tiến trình lịch sử Việt Nam, 2007); Lương Ninh (Lịch sử vương quốc Champa, 2004; Lịch sử Đông Nam Á, 2008).

3. Nghiên cứu của các tác giả người Chăm

  • Trước năm 1975: Dohamide và Dorohiêm (Dân tộc Chàm lược sử, 1965); Trung tâm Văn hóa Chàm Phan Rang (thành lập 1968 do G. Moussay điều hành cùng Lâm Gia Tịnh, Thiên Sanh Cảnh, Nại Thành Bô, Lưu Quý Tân, Đàng Năng Phương...) sưu tầm tư liệu và công bố Từ điển Chàm - Việt - Pháp (1971); Đặc san Ước vọng của Thành Phú Bá (1968); Tạp chí Nội san Panrang (1972–1975).
  • Sau năm 1975: Thành Phần (Hệ thống nhà cửa của người Chăm ở Việt Nam, 1990; Danh mục thư tịch Chăm ở Việt Nam, 2007); Inrasara với hàng loạt chuyên khảo (Văn học Chăm I - 1994, Văn học Chăm II - 1996, Văn học dân gian Chăm tục ngữ và câu đố - 1995, Từ điển Chăm - Việt - 1995, Các vấn đề văn hóa - xã hội Chăm - 1999, Văn hóa – Xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại - 2003, Trường ca Chăm - Ariya - 2006, Văn học Chăm - Khái luận - 1994, và đặc san Tagalau từ năm 2000); Bố Xuân Hổ (Truyền thuyết các tháp Chăm, 1995); Bá Trung Phụ (Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam, 1996); Tạp chí Champaka (từ 1999); Đặc san Vijaya (1999); Sakaya (Nghề gốm cổ truyền của người Chăm, 2001; Lễ hội người Chăm, 2003; Luật tục người Chăm và Raglai, 2003; Văn hóa Chăm nghiên cứu và phê bình, tập 1, 2010); Phú Văn Hẳn (2005); Đàng Năng Hòa.

4. Nghiên cứu về văn học và biểu tượng thơ Chăm

  • Bộ sách Ngữ văn Chăm cấp I (Ban biên soạn sách chữ Chăm Thuận Hải, 1982–1992, chỉnh lý 1993–2000); các bài viết của Inrasara trên Tạp chí Văn học (1994) và Tạp chí Văn hóa dân gian (1995).
  • Các công trình nghiên cứu thơ Inrasara: Võ Thị Hạnh Thủy (Thế giới nghệ thuật thơ Inrasara), Lê Thị Tuyết Lan – Nguyễn Thị Thu Hương, Trần Xuân Quỳnh (Thơ Inrasara), Lê Thị Việt Hà (Hành trình cách tân thơ của Inrasara), Trần Xuân An (Inrasara làm sáng tên năm đóa hoa champa của riêng anh).
Nhóm nghiên cứu Đại diện tiêu biểu Nội dung và phạm vi tiếp cận chính
Tác giả nước ngoài Mã Đoàn Lâm, Marco Polo, Odoric de Pordennone, các học giả Pháp Khảo cổ, văn bia, kiến trúc đền tháp, lịch sử bang giao, tôn giáo Champa cổ.
Tác giả người Việt Sử liệu triều Nguyễn, Ngô Văn Doanh, Lương Ninh, Trần Ngọc Thêm Lịch sử tộc người, lễ hội, tôn giáo, mỹ thuật điêu khắc, tiến trình hội nhập dân tộc.
Tác giả người Chăm Dohamide - Dorohiêm, Thành Phần, Inrasara, Sakaya, Bá Trung Phụ Biên niên sử, văn bản học Akhar thrah, phong tục, luật tục, văn học dân gian và trường ca.
Nghiên cứu thơ Chăm Võ Thị Hạnh Thủy, Lê Thị Việt Hà, Trần Xuân Quỳnh, Trần Xuân An Thi pháp, cái tôi trữ tình, yếu tố hậu hiện đại và một số hình ảnh biểu tượng trong thơ Inrasara.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tập trung vào văn hóa vật thể, lịch sử, nhân học hoặc dừng lại ở việc khảo cứu tác giả riêng lẻ Inrasara. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Xác lập cơ sở lí luận tường minh về biểu tượng văn học từ góc nhìn văn hóa học, khảo sát toàn diện diện mạo thi ca Chăm đương đại (với nhiều tác giả Chăm), phân loại và giải mã hệ thống biểu tượng từ truyền thống đến cách tân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án xây dựng khung lí thuyết dựa trên sự tích hợp giữa kí hiệu học, phân tâm học, văn hóa học và thi pháp học:

  1. Khái niệm biểu tượng:

    • Trong đời sống và khoa học: Định nghĩa theo 3 lớp nghĩa của Từ điển tiếng Việt (hình ảnh tượng trưng; hình thức nhận thức cao hơn cảm giác lưu giữ trong đầu óc; ký hiệu đồ họa). Về bản chất, biểu tượng là loại kí hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt (hình thức cảm tính) và cái được biểu đạt (ý nghĩa) mang tính có lí do.
    • Phân tâm học: S. Freud sử dụng thuật ngữ symbole chỉ sản phẩm vô thức cá nhân; C.G. Jung mở rộng thành mẫu gốc (archétype) từ vô thức cộng đồng, coi biểu tượng là hình ảnh chỉ ra bản chất tâm linh.
    • Kí hiệu học văn hóa: Khái niệm của Jean Chevalier (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới), khẳng định biểu tượng rộng lớn hơn ý nghĩa được gán nhân tạo, cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt.
  2. Phân biệt biểu tượng với các khái niệm liên quan:

    • Biểu tượng và Kí hiệu: Kí hiệu thông thường (dấu hiệu, đại số, ngụ ngôn) chỉ dừng lại ở mức biểu nghĩa nhân tạo, đơn nghĩa; biểu tượng là kí hiệu thẩm mỹ đa nghĩa, mang sức gợi mở vượt ra ngoài hình thức biểu đạt.
    • Biểu tượng và Ẩn dụ: Ẩn dụ sinh ra tức thời, linh hoạt, mang tính biến đổi; biểu tượng hình thành qua thời gian dài, mang tính bền vững, ước lệ và được quy ước bởi hệ thống thi ca xác định.
    • Biểu tượng và Hình ảnh: Hình ảnh thuộc về tri giác trực tiếp ở hiện tại; biểu tượng là cấp độ nhận thức cao hơn, được tôi luyện trong ý thức, được lặp đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm nghệ thuật.
    • Biểu tượng và Hình tượng: Hình tượng là ký hiệu biểu thị (ký hiệu hiển ngôn/thông thường); biểu tượng là phần hình tượng vượt khỏi bản thân nó, mang giá trị trừu tượng (siêu ký hiệu/ký hiệu mật ngôn).
  3. Biểu tượng văn hóa và biểu tượng trong văn học:

    • Biểu tượng văn hóa: Đơn vị cơ bản của văn hóa (L. White; định nghĩa văn hóa của UNESCO; Trần Ngọc Thêm). Tồn tại ở 3 dạng: biểu tượng vật thể, biểu tượng phi vật thể, biểu tượng nghệ thuật.
    • Cơ chế hình thành biểu tượng văn học: Dựa trên biểu tượng gốc (symbole naturelle) gắn với mẫu gốc tự nhiên/vô thức và biểu tượng ước lệ (symbole conventionnelle) phái sinh qua đời sống xã hội (quan niệm của Nguyễn Thị Ngân Hoa), kết hợp cảm quan nghệ thuật cá nhân và vô thức tập thể.
    • Bốn tính chất của biểu tượng văn học: Tính ổn định tương đối; tính luôn được sáng tạo và đổi mới; tính đa nghĩa; tính lịch sử.
    • Chức năng của biểu tượng văn học: Chức năng mã hóa tư tưởng tình cảm; chức năng biểu hiện; chức năng giao tiếp; chức năng thể hiện phong cách tác gia, thời đại và khuynh hướng văn học.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Xem xét văn học như một tiểu hệ thống trong chỉnh thể toàn vẹn của văn hóa Chăm, tìm kiếm mối quan hệ tương hỗ giữa văn hóa tộc người và thi ca.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt các biểu tượng trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm và hệ thống văn hóa Chăm, theo dõi sự vận động của biểu tượng theo trục lịch đại từ truyền thống đến hiện đại.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn học, văn hóa học, triết học, tôn giáo học, nhân học, dân tộc học và lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu và phân tích văn bản: Phân tích, khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh, thuyết minh và thao tác giải mã thi pháp biểu tượng trong tác phẩm thơ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

  • Văn bản thi ca của các nhà thơ Chăm đương đại xuất bản từ năm 1990 đến nay (các tập thơ của Inrasara, các tập tuyển Tagalau, các bài thơ đăng tải trên báo chí và mạng Internet).
  • Nguồn thư tịch cổ chữ Chăm (Akhar thrah), văn bia Champa, các công trình khảo cứu dân tộc học, văn hóa học của các học giả trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu văn hóa, văn học Chăm

Chương này điểm lại toàn diện lịch sử nghiên cứu văn hóa, lịch sử và văn học Chăm từ quá khứ đến hiện tại qua 3 nhóm tác giả (nước ngoài, người Việt, người Chăm), đồng thời tổng thuật mảng nghiên cứu văn học Chăm và các công trình về thơ Inrasara. Luận án chỉ ra rằng dù đã có những công trình khảo sát dân tộc học và lịch sử giá trị, mảng thơ ca đương đại Chăm vẫn chưa được nghiên cứu xứng tầm. Nghiên cứu biểu tượng văn hóa Chăm trong thi ca vẫn là một địa hạt mới mẻ, thiếu tính hệ thống và chưa được định nghĩa nội hàm chuẩn xác.

Chương 2: Biểu tượng văn hóa trong văn học và thơ Chăm đương đại

Chương 2 thiết lập hệ thống cơ sở lí luận về biểu tượng trong đời sống, ký hiệu học, phân tâm học, văn hóa học và văn học; phân biệt tường minh biểu tượng với ký hiệu, ẩn dụ, hình ảnh, hình tượng; phân tích 4 tính chất và các chức năng của biểu tượng văn học.

Bên cạnh đó, chương này khảo sát nguồn gốc và các nhân tố chi phối biểu tượng thơ Chăm đương đại:

  • Nguồn gốc biểu tượng: Bắt nguồn từ tín ngưỡng đa thần, Ấn Độ giáo (Siva giáo), Phật giáo Đại thừa thời Đồng Dương, Hồi giáo (Bani và Islam); các công trình kiến trúc điêu khắc (đền tháp, Thánh địa Mỹ Sơn, phù điêu Apsara); hệ thống lễ hội truyền thống (Katê, Cambur, Rija Nưgar, Ramưwan...); phong tục mẫu hệ và cấu trúc làng Chăm (Palei Cam) do Trưởng làng (Po Palei) và Hội đồng phong tục quản lý theo luật tục.
  • Quan niệm thẩm mỹ chi phối: Thơ là tiếng nói hướng về cội nguồn và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc; thơ là các cung bậc rung động thẩm mỹ về nhân sinh; thơ là hành trình tìm kiếm cái đẹp mới và bộc lộ tâm tư về bản sắc Chăm.

Chương 3: Giải mã một số biểu tượng văn hóa truyền thống trong thơ Chăm đương đại

Chương 3 tập trung giải mã hệ thống biểu tượng gắn liền với di sản và đời sống tâm linh ngàn đời của người Chăm được tái hiện trong thơ đương đại:

  1. Biểu tượng tín ngưỡng và di sản vật thể:
    • Tháp Chămpa: Biểu tượng muôn mặt của văn hóa Chăm, hiện lên vừa với vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm, kiêu hãnh, vừa mang thân phận chênh vênh của cái đẹp bị lãng quên, hoang phế qua biến thiên lịch sử.
    • Thánh địa Mỹ Sơn: Quần thể kiến trúc đền tháp hơn 70 công trình tồn tại qua 9 thế kỷ (thế kỷ IV–XIII), biểu tượng cho người mẹ tâm linh thường trụ, không gian linh thiêng gắn với ký ức cộng đồng.
  2. Biểu tượng tín ngưỡng phi vật thể và xã hội truyền thống:
    • Biểu tượng lễ hội: Các lễ hội lớn (Katê, Rija Nưgar, Ramưwan...) được giải mã như hồn vía dân tộc, nơi hội tụ âm nhạc (trống Ginăng, kèn Saranai), vũ điệu và sự gắn kết cộng đồng.
    • Biểu tượng Mẫu: Hình tượng Nữ thần Mẹ Xứ Sở (Po Nagar), phản ánh chế độ mẫu hệ, nguyên lý sinh dưỡng và tinh thần nữ quyền Chăm.
    • Biểu tượng sông nước: Gắn liền với môi trường sinh tồn, tín ngưỡng thờ thần nước (Po Yang Ia), cội nguồn nuôi dưỡng và không gian ký ức.
  3. Biểu tượng nghệ thuật và tri thức tộc người:
    • Vũ nữ Apsara: Hóa thân từ nghệ thuật điêu khắc đá Ấn Độ (tiêu biểu như phù điêu Trà Kiệu) trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn và số phận trầm nổi của người phụ nữ Chăm.
    • Chữ viết Chăm (Akhar thrah): Biểu tượng của niềm tự hào, ý thức tự tôn dân tộc và khát vọng bảo tồn di sản văn hóa tinh thần trước nguy cơ mai một.

Chương 4: Giải mã những biểu tượng có tính cách tân trong thơ Chăm đương đại

Chương 4 phân tích sự vận động của thơ Chăm đương đại trong bối cảnh văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, giải mã các biểu tượng mới nảy sinh từ hiện thực đời sống và ý thức đổi mới nghệ thuật:

  1. Biểu tượng thiên nhiên cách tân:
    • Biểu tượng cây xương rồng: Biểu tượng mang tính đặc thù cho sức sống bền bỉ, tiềm tàng, sức chịu đựng dẻo dai của con người Chăm trước thiên nhiên khắc nghiệt nắng gió vùng Panduranga (Ninh Thuận); đồng thời là biểu tượng độ trì, soi dẫn đường đi trong đêm tối.
    • Biểu tượng dòng sông: Không chỉ là dòng chảy tự nhiên mà trở thành không gian lưu giữ kỷ niệm, chứng nhân cho những thăng trầm, mất mát và chia cắt của kiếp người.
  2. Biểu tượng nhân sinh và không gian xã hội đương đại:
    • Biểu tượng Palei (làng) Chăm: Đại diện cho không gian sinh tồn truyền thống, làng quê nghèo xác xơ nhưng thanh bình, cái nôi gìn giữ phong tục, đạo lý và bản sắc cội nguồn.
    • Biểu tượng Phố: Không gian đô thị hiện đại trong cảm thức người Chăm – biểu hiện cho khát vọng hòa nhập, sự va đập giữa truyền thống và hiện đại, nỗi ám ảnh tha hương, tâm trạng lạc lõng của những số phận Chăm khi rời làng ra phố.
Nhóm chương Phân loại biểu tượng Các biểu tượng cụ thể được giải mã Ý nghĩa biểu trưng cơ bản
Chương 3 Biểu tượng văn hóa truyền thống Tháp Chămpa, Thánh địa Mỹ Sơn, Lễ hội, Biểu tượng Mẫu, Biểu tượng sông nước, Vũ nữ Apsara, Chữ viết Chăm (Akhar thrah) Trầm tích tâm linh, vẻ đẹp di sản kiến trúc - điêu khắc, chế độ mẫu hệ, cội nguồn văn hóa và niềm tự tôn tộc người.
Chương 4 Biểu tượng có tính cách tân Cây xương rồng, Dòng sông ký ức, Palei (làng) Chăm, Phố thị Sức sống kiên cường trước nghịch cảnh, không gian lưu giữ phong tục, sự va chạm văn hóa và tâm thế tha hương, hòa nhập.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn

  • Về mặt lí luận: Luận án hệ thống hóa và xác lập khung lí thuyết liên ngành về biểu tượng văn học dưới góc nhìn văn hóa học; phân biệt rõ các ranh giới giữa biểu tượng với kí hiệu, ẩn dụ, hình ảnh, hình tượng; chỉ ra cơ chế chuyển hóa từ biểu tượng gốc/mẫu gốc sang biểu tượng ngôn từ nghệ thuật.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Đây là công trình luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và quy mô về biểu tượng văn hóa Chăm trong thơ Chăm đương đại.
    • Luận án chứng minh rằng mặc dù văn hóa Chăm trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, dòng chảy văn hóa ngầm vẫn kết đọng lại thành những trầm tích vững chắc trong hệ thống biểu tượng thơ ca đương đại.
    • Khám phá mối liên hệ biện chứng giữa ý nghĩa biểu tượng truyền thống tồn tại trong tâm thức cộng đồng với sự bảo lưu, biến đổi và cách tân trong sáng tác thơ hiện đại (tiêu biểu ở thơ Inrasara và các tác giả đương thời).
    • Khẳng định vị trí, đóng góp của bộ phận thi ca Chăm vào sự phong phú, đa dạng của nền văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất

  • Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác sưu tầm, dịch thuật và số hóa các văn bản chữ Chăm (Akhar thrah) để làm giàu nguồn ngữ liệu cho nghiên cứu văn học.
  • Cần mở rộng phạm vi nghiên cứu đến nhiều tác giả thơ Chăm trẻ tuổi khác, tránh việc tập trung đơn nhất vào một vài gương mặt đã định hình tên tuổi.
  • Tăng cường giảng dạy, giới thiệu văn học các dân tộc thiểu số (trong đó có văn học Chăm) trong chương trình giáo dục ngữ văn ở bậc đại học và phổ thông nhằm bảo tồn các giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Về phạm vi tư liệu: Mặc dù cộng đồng Chăm có gần 100 tác giả thơ, nguồn tư liệu khảo sát trong luận án vẫn phải tập trung tỷ trọng lớn vào thơ Inrasara do tính chất đại diện vượt trội về cả số lượng và chất lượng tác phẩm; nhiều tác giả Chăm khác sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ hoặc công bố trên các ấn phẩm địa phương chưa được bao quát triệt để.
  • Về phạm vi thời gian: Luận án chỉ giới hạn khảo sát các tác phẩm trong khoảng 20 năm (từ năm 1990 đến năm 2017), chưa thể bao quát toàn bộ tiến trình thơ ca Chăm từ các giai đoạn trước năm 1975.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống biểu tượng trong thơ Chăm với thi ca của các dân tộc thiểu số khác ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  • Đi sâu phân tích sự chuyển dịch ngữ nghĩa của biểu tượng khi tác phẩm thơ Chăm được tự dịch hoặc chuyển ngữ từ tiếng Chăm sang tiếng Việt và ngược lại.
  • Khảo sát tiến trình vận động của biểu tượng thơ Chăm trong các trào lưu nghệ thuật mới (như chủ nghĩa hậu hiện đại) trong giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận văn học và Văn học Việt Nam: Luận án cung cấp mô hình thao tác tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa học, phương pháp phân loại và giải mã ký hiệu biểu tượng. Phần cơ sở lý thuyết (Chương 2) là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thi pháp học.
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Văn hóa học, Dân tộc học: Luận án cung cấp hệ thống tri thức phong phú về phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc tháp Champa và cấu trúc xã hội mẫu hệ Chăm thông qua lăng kính nghệ thuật (Chương 1 và Chương 3).
  • Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Các phân tích về sự va đập giữa Palei và Phố (Chương 4), về nguy cơ mai một chữ viết Chăm và tháp cổ mang lại cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng chính sách bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh đô thị hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định các nguồn gốc văn hóa cơ bản nào tạo nên hệ thống biểu tượng trong thơ Chăm đương đại?
Luận án xác định hệ thống biểu tượng thơ Chăm hình thành từ các mạch nguồn: Tín ngưỡng và tôn giáo (Ấn Độ giáo, Siva giáo, Phật giáo Đại thừa, Hồi giáo Bani và Islam); các công trình kiến trúc điêu khắc (Tháp Champa, Thánh địa Mỹ Sơn, tượng/phù điêu Apsara); hệ thống lễ hội truyền thống (Katê, Cambur, Rija Nưgar, Ramưwan...); phong tục mẫu hệ; cấu trúc làng Chăm (Palei Cam) và di sản chữ viết Chăm (Akhar thrah).

2. Luận án phân biệt khái niệm biểu tượng với ẩn dụ và hình ảnh như thế nào?

  • Với ẩn dụ: Ẩn dụ sinh ra tức thời, mang tính biến đổi và tự do; biểu tượng hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài, có tính ổn định, bền vững và tính quy ước cao trong hệ thống thi ca.
  • Với hình ảnh: Hình ảnh là kết quả của tri giác trực tiếp sự vật ở hiện tại; biểu tượng là cấp độ nhận thức cao hơn cảm giác, được tôi luyện qua ý thức, được lặp đi lặp lại nhiều lần và mang tính chất trừu tượng, khái quát.

3. Vì sao thơ Inrasara chiếm tỷ trọng khảo sát lớn nhất trong luận án?
Trong số gần 100 nhà thơ Chăm đương đại, Inrasara là tác giả tiêu biểu nhất có sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu đồ sộ, phong phú về số lượng và chất lượng nghệ thuật. Tác phẩm của Inrasara phản ánh đầy đủ nhất cả hai chiều kích: gìn giữ biểu tượng văn hóa truyền thống và mở rộng các biểu tượng cách tân, hiện đại.

4. Biểu tượng cây xương rồng và biểu tượng Phố mang ý nghĩa gì trong Chương 4 của luận án?

  • Cây xương rồng: Biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường chịu hạn trên vùng đất khô cằn Panduranga (Ninh Thuận), biểu trưng cho phẩm chất chịu đựng và khát vọng vươn lên, đóng vai trò như điểm sáng dẫn đường.
  • Phố: Biểu tượng cho không gian đô thị hiện đại, nơi diễn ra sự va chạm văn hóa, phản ánh nỗi niềm tha hương, tâm trạng lạc lõng nhưng đồng thời thể hiện nỗ lực hòa nhập đời sống hiện đại của người Chăm.

5. Luận án phân chia hệ thống biểu tượng thơ Chăm thành những nhóm cụ thể nào ở Chương 3 và Chương 4?

  • Chương 3 (Biểu tượng truyền thống): Nhóm tín ngưỡng - di sản (Tháp Chămpa, Thánh địa Mỹ Sơn); nhóm phong tục - đời sống (Lễ hội, Biểu tượng Mẫu, Sông nước); nhóm nghệ thuật - tri thức (Vũ nữ Apsara, Chữ viết Chăm).
  • Chương 4 (Biểu tượng cách tân): Nhóm thiên nhiên (Cây xương rồng, Dòng sông ký ức); nhóm nhân sinh - không gian xã hội (Palei Chăm, Phố thị).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Biểu tượng văn hóa Chăm trong thơ Chăm đương đại" của nghiên cứu sinh Trần Hoài Nam là công trình chuyên khảo giải mã có hệ thống diện mạo thi ca Chăm từ năm 1990 đến năm 2017 dưới góc nhìn văn hóa học và thi pháp học. Bằng việc phân lập hai trục biểu tượng truyền thống và biểu tượng cách tân, tác giả đã làm sáng tỏ sự bảo lưu bền vững của các trầm tích văn hóa Champa trong đời sống hiện đại cũng như ý thức đổi mới nghệ thuật của các nhà thơ Chăm. Công trình khẳng định giá trị thẩm mỹ và đóng góp của thi ca Chăm vào dòng chảy văn học đa dân tộc của Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn ngữ liệu và cơ sở lí luận hữu ích cho các nghiên cứu về văn hóa và văn học tộc người.