CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT BIỂU TƯỢNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết biểu tượng và nghiên cứu văn học dân gian từ lý thuyết biểu tượng 1. Lý thuyết biểu tượng Biểu tượng là một thuật ngữ khá quen thuộc trong đời sống thường ngày và đời sống học thuật. Tính đa nghĩa của biểu tượng đã tạo ra sức hút đối với các nhà nghiên cứu, vì vậy, mỗi ngành khoa học lại gởi gắm một nội hàm riêng cho thuật ngữ này.
Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng là “hình ảnh tượng trưng”, là “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [70, tr. Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới lại cho rằng “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó” [21, tr. Tổng kết định nghĩa về thuật ngữ biểu tượng trong các từ điển trên thế giới, Đinh Hồng Hải, tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng trong những năm gần đây, đã tóm lược: “Biểu tượng có tính đa nghĩa nhưng chúng ta có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình và biểu ý. Trên thế giới, thuật ngữ symbology được nhiều từ điển giải thích với các ý nghĩa: 1- Việc nghiên cứu hoặc sử dụng các biểu tượng và 2- Tập hợp các biểu tượng (1: the study or use of symbols.
Các từ điển nghệ thuật có thêm một ý nghĩa là: 3- Nghệ thuật sử dụng các biểu tượng để nhắc đến một trào lưu nghệ thuật thịnh hành ở Châu Âu vào thế kỷ XIX. Như vậy, thuật ngữ symbology trong tiếng Anh tương đương với nghiên cứu biểu tượng (hoặc biểu tượng học) trong tiếng Việt” [34, tr. Đinh Hồng Hải khẳng định “Nghiên cứu biểu tượng là khoa học có chức năng giải mã các thành tố văn hóa được sản sinh trong đời sống của con người” [34, tr. Từ chính những định nghĩa trên, dễ dàng nhận ra bản chất của biểu tượng là khó xác định và sống động, như cách R.
Becker so sánh: “Có thể ví biểu tượng 7 với một khối tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau, nguồn sáng tùy theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng” [dẫn theo Đinh Hồng Hải, 34, tr. Vậy nên, giải mã biểu tượng không phải là một hành trình bằng phẳng và con đường thẳng tắp. Việc xác định ý nghĩa/ giá trị của biểu tượng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: nền văn hóa sản sinh, bối cảnh và thời điểm biểu tượng ra đời, cùng với mục đích sử dụng ở từng thời điểm,… Điều đó cho thấy nghiên cứu biểu tượng phải là ngành khoa học liên ngành với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: triết học, văn học, dân tộc học, mỹ học, phân tâm học, xã hội học… Trong đó, các lĩnh vực ngôn ngữ học, nhân học và ký hiệu học được xem là nền tảng để nghiên cứu biểu tượng. Trước tiên, với ký hiệu học, theo Claude Levi-Strauss, “Mọi nền văn hóa có thể được xem như là một tổng thể các hệ thống biểu tượng mà ở hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật khoa học, tôn giáo.
Tất cả các hệ thống đó nhắm đến sự thể hiện một số mặt của thực tại thể xác và thực tại xã hội, và hơn thế nữa, thể hiện các quan hệ mà hai loại hình thực tại đó và bản thân các hệ thống biểu tượng có với nhau” [dẫn theo Đinh Hồng Hải, 34, tr. Biểu tượng tồn tại dạng ngôn ngữ đặc biệt, có khả năng xóa nhòa khoảng cách về không gian và thời gian để con người có thể tri nhận những thông điệp cổ xưa qua các di vật văn hóa. Mang trong mình nhiều tầng lớp nghĩa nhưng lại được biểu đạt dưới hình thức súc tích của ngôn ngữ, biểu tượng có quan hệ chặt chẽ với ký hiệu. Dựa trên mô hình cấu trúc nổi tiếng của F.
Saussure, hai tác giả tiêu biểu của cấu trúc luận là L. Barthes đã phát triển để làm rõ mối liên hệ này. Cái biểu đạt (Signifier) Ký hiệu (Sign) = Cái được biểu đạt (Signified) Mô hình của F. Saussure “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ có hai phần: cái biểu đạt (le signifiant) và cái được biểu đạt (le signifié).
Cái biểu đạt là một hình ảnh thính giác, cái được biểu đạt là một khái niệm. Không có mối liên hệ tất yếu nào giữa ký hiệu với vật được chỉ định, hay như người ta thường nói, liên hệ giữa chúng là võ đoán” [34, tr. Trên cơ sở mở rộng nội hàm của thuật ngữ ký hiệu cho nhiều lĩnh vực (cả trong và ngoài ngôn ngữ học), bao gồm dấu hiệu, tín hiệu, lời nói, cử chỉ, 8 hành động,… mang tính thông tin, L.Hjelmslev đã khái quát ba yếu tố cấu thành mỗi ký hiệu (sự biểu đạt - quan hệ - nội dung) trong mô hình tam giác sau: Mô hình ký hiệu học của L.76] Đóng góp quan trọng nhất của L. Hjelmlev là sự phân biệt “ký hiệu học biểu thị” với “ký hiệu học hàm nghĩa”.
Trong đó, ký hiệu thông thường là hệ thống ký hiệu biểu thị, còn “ngôn ngữ hàm nghĩa là một ngôn ngữ mà bình diện biểu đạt (hình thức) của nó cũng là một hệ thống ngôn ngữ thông thường (ký hiệu biểu thị) và cả hai hệ thống đã lồng vào nhau tạo thành một hệ thống kép – hệ thống siêu ký hiệu” [34, tr. Barthes lại phát triển mô hình cấu trúc của ký hiệu ở mức cao hơn với sơ đồ cú pháp ký hiệu học hàm nghĩa như sau: A CBĐ: CĐBĐ: Sự biểu thị (HT) Sự biểu đạt (ND) B CBĐ: CĐBĐ: Sự hàm nghĩa (HT) Sự hàm nghĩa (ND) A: Ký hiệu học biểu thị (Semiotic denotative) - Ngôn ngữ thông thường B: Ký hiệu học hàm nghĩa (Semiotic connotative) – Ngôn ngữ biểu tượng Mô hình cấu trúc của ký hiệu của R. Barthes đã cụ thể hóa tính “hệ thống kép” hay “hệ thống trong hệ thống” đặc trưng của ngôn ngữ biểu tượng. Nghĩa là trong ngôn ngữ biểu tượng, bình diện biểu đạt (hình thức) lại ẩn chứa một ký hiệu biểu thị - ngôn ngữ thông thường.
Đây cũng chính là mô hình mà R. Barthes sử dụng để giải mã cấu trúc của thần thoại. 9 Trong bài viết “Biểu tượng như là “đơn vị cơ bản” của văn hóa”, Nguyễn Văn Hậu chuyển đổi sơ đồ của R. Barthes thành sơ đồ giải thích ký hiệu hàm nghĩa nhằm giải mã ngôn ngữ biểu tượng: Hình thức sự biểu thị Nội dung sự biểu thị A Sự vật, hiện tượng, nội dung, ý nghĩa, tên cái dùng biểu thị gọi v.
Hình thứcsự hàm nghĩa Nội dung sự hàm nghĩa B (Ký hiệu biểu thị – hiển ngôn) (Ký hiệu ẩn dụ – mật ngôn) Siêu ký hiệu - ngôn ngữ biểu tượng (Symbol) A: Ký hiệu học biểu thị (Semiotic denotative) - Ngôn ngữ thông thường B: Ký hiệu học hàm nghĩa (Semiotic connotative) – Ngôn ngữ biểu tượng Mô hình chuyển đổi của Nguyễn Văn Hậu [92] Có thể nói ký hiệu học với phương pháp tiếp cận rõ ràng, cụ thể đã giúp cho các nhà khoa học hạn chế được tính khó xác định của biểu tượng. Dù khẳng định vai trò nền tảng cho khoa học nghiên cứu về biểu tượng của ký hiệu học, Đinh Hồng Hải chỉ ra giới hạn của phương pháp này, đó là “nếu chỉ tiếp cận nghiên cứu các biểu tượng dưới góc nhìn ký hiệu học thì chúng ta vẫn có thể gặp khó khăn khi buộc phải giải thích một thành tố văn hóa trong môi trường sống của nó (nghĩa là trong thời gian và không gian của riêng nó” [34, tr. Bên cạnh ký hiệu học, hướng tiếp cận nhân học trong nghiên cứu biểu tượng đã được Raymond Firth khái quát thế mạnh trong Biểu tượng: Chung và Riêng: “Nó liên kết và giải thích về các sự kiện thông qua biểu tượng luận với các cấu trúc xã hội và các sự kiện xã hội trong những điều kiện cụ thể… Theo đó, các nhà nhân học được trang bị để giải thích ý nghĩa của các biểu tượng trong các nền văn hóa mà họ đang nghiên cứu, và để sử dụng những lý giải như những phương tiện trung gian để hiểu xa hơn về các tiến trình trong đời sống xã hội” [34, tr. Đối tượng nghiên cứu của nhân học biểu tượng là ẩn dụ, ngôn ngữ, hệ thống biểu tượng, nghi lễ, ma thuật, đời sống, biểu tượng luận, vũ trụ luận, và thần thoại.
Với những phương pháp chuyên biệt như điền dã thực địa (fieldwork) hay quan sát tham dự (participant 10 observation), nhân học đem lại giải pháp để khám phá biểu tượng trong chính môi trường “sống” của nó một cách tối ưu. Do đó, nhân học được xem là phương pháp bổ khuyết cho giới hạn của ký hiệu học trong nghiên cứu biểu tượng. Ngoài ra, nghiên cứu biểu tượng không thể không đề cập đến hướng tiếp cận từ cấu trúc luận. Claude Levi-Strauss đã có những đóng góp lớn cho việc nghiên cứu biểu tượng.
“Ông cho rằng phân loại nhị nguyên (binary classification) là một điểm đặc trưng phổ quát của nhận thức con người. Các nghiên cứu mở rộng của ông đối với thần thoại, nghệ thuật và hệ thống thân tộc đã khám phá ra những hình mẫu văn hóa khác nhau ở mức độ phức tạp và diện mạo bên ngoài, về bản chất, dựa vào tính đối ngẫu: tự nhiên/ văn hóa, đàn ông/ đàn bà, tinh khiết/ không tinh khiết, v.v… Hệ thống văn hóa, dưới góc nhìn này, với những nền tảng tinh vi của nó khai hóa thế giới, xã hội hóa nó, đưa ra sự phân loại tùy theo biểu hiện của tự nhiên. Mối quan tâm của các nhà cấu trúc luận trong các hệ thống văn hóa của ý nghĩa ở những gì họ có thể bộc lộ ra và khi nào thì phân tích về tiến trình nhận thức phổ quát của con người” [dẫn theo Đinh Hồng Hải, 34, tr. Có thể thấy cấu trúc luận đã tạo nền tảng để ký hiệu học và nhân học (nhân học cấu trúc và nhân học biểu tượng) nghiên cứu biểu tượng với những hướng tiếp cận hiệu quả khác nhau.
Trong công trình nghiên cứu Nghiên cứu biểu tượng – Một số hướng tiếp cận lý thuyết (2014), ở phần “Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng: từ ký hiệu học đến nhân học biểu tượng”, Đinh Hồng Hải đã đưa ra sơ đồ tóm tắt diễn trình của khoa học nghiên cứu biểu tượng như sau: CBĐ ND Cái biểu đạt KH NNBT BT Nội MĐSD Ký Ngôn Biểu dung Mục đích CĐBĐ hiệu ngữ biểu tượng HT sử dụng Cái được tượng Hình biểu đạt thức “Diễn trình của khoa học nghiên cứu biểu tượng” (Đinh Hồng Hải) [34, tr.