Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2018), ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên toàn cầu với khoảng 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018. Tại Việt Nam, số liệu từ Tạp chí Y học dự phòng (2013) ghi nhận năm 2012 có khoảng 110.000 trường hợp mắc mới và tỷ lệ tử vong vượt mức 73%, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tử vong do ung thư cao hàng đầu thế giới. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc bệnh ước tính tăng trung bình 5,4% mỗi năm, trong đó có ít nhất 80% bệnh nhân nam và 60% bệnh nhân nữ được phát hiện ở giai đoạn nặng, không còn khả năng điều trị khỏi.

Bệnh lý ung thư giai đoạn cuối không chỉ gây đau đớn nghiêm trọng về mặt thể xác và tinh thần cho người bệnh, mà còn tạo ra gánh nặng tâm lý và áp lực căng thẳng kéo dài cho người chăm sóc trực tiếp (Bevans, 2012). Mặc dù mô hình Chăm sóc giảm nhẹ theo định nghĩa của WHO (2018) và Bộ Y tế Việt Nam (2006) đặt mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho cả bệnh nhân lẫn gia đình thông qua việc giải tỏa các gánh nặng thể lực, tâm lý xã hội và tâm linh, song thực tiễn triển khai tại Việt Nam còn rất hạn chế. Tính đến năm 2015, toàn quốc chỉ có hai bệnh viện chính thức thành lập Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ là Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Đáng chú ý, tại Phòng khám tâm lý – Chăm sóc giảm nhẹ thuộc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM vào thời điểm nghiên cứu chưa có chuyên viên tâm lý cơ hữu nào hỗ trợ bệnh nhân điều trị nội trú, khiến thân nhân bệnh nhân hầu như chưa nhận được sự hỗ trợ tâm lý cần thiết.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nguyễn Minh Châu (Chuyên ngành Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, niên học 2018 - 2019, người hướng dẫn: ThS. Đoàn Bắc Việt Trân) được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng và biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đang chăm sóc người bệnh tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ giảm thiểu lo âu cho nhóm khách thể này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về lo âu và biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.
    2. Khảo sát thực trạng mức độ và biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.
    3. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ giảm thiểu sự lo âu, nâng cao chất lượng cuộc sống cho thân nhân người bệnh.
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    1. Mức độ lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại địa bàn nghiên cứu tương đối cao.
    2. Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân thể hiện rõ nét nhất ở phương diện cơ thể.
    3. Mức độ và biểu hiện lo âu có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập và tôn giáo.
  • Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
    • Đối tượng: Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.
    • Khách thể: 30 thân nhân trực tiếp chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu được giới hạn là công dân Việt Nam có quan hệ gia đình trong phạm vi ba đời với bệnh nhân (ông/bà ruột, cha/mẹ ruột, vợ/chồng, con ruột, con dâu/con rể, anh/chị/em ruột, anh/chị/em ruột của cha mẹ, cháu nội/ngoại ruột) và không mắc các bệnh mãn tính như tim mạch, hen suyễn, HIV/AIDS hoặc ung thư. Địa bàn và thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ ngày 01/03/2019 đến ngày 12/04/2019 tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm công cụ dựa trên các tài liệu chuyên ngành y học và tâm lý học chuẩn mực:

  • Ung thư và ung thư giai đoạn cuối: Tiếp cận theo định nghĩa của WHO (2018), Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute, 2015), PGS.TS. Nguyễn Bá Đức (2005) và Cancer Research UK (2017). Nghiên cứu giới hạn ung thư giai đoạn cuối (hay ung thư giai đoạn tiến xa) là giai đoạn tế bào ung thư đã di căn sang các cơ quan khác trong cơ thể, hình thành khối u thứ phát (tương ứng với giai đoạn M1 theo hệ thống TNM hoặc giai đoạn IV).
  • Chăm sóc giảm nhẹ: Dựa theo hướng dẫn của WHO (2018) và Quyết định của Bộ Y tế Việt Nam (2006), tiếp cận chăm sóc toàn diện 4 khía cạnh: thực thể, tâm lý, xã hội và tâm linh cho cả người bệnh và người nhà.
  • Lo âu và rối loạn lo âu: Phân biệt trạng thái lo âu thông thường và lo âu bệnh lý theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-5), giáo trình Tâm thần học (2005), Vũ Dũng (2008), Leahy (2012), Bùi Quang Huy (2017). Lo âu được định nghĩa là trạng thái gắn liền với những biến đổi tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi) và sinh lý (phản ứng thần kinh thực vật, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa) khi đương đầu với nguy cơ hoặc sự kiện đe dọa.

Về mặt phương pháp luận, tác giả kết hợp nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn với các kỹ thuật cụ thể:

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng Thang đo Tự đánh giá Lo âu Zung (Zung Self-Rating Anxiety Scale - ZSAS) gồm 20 câu hỏi (thang Likert 4 mức độ từ 1 đến 4, trong đó các câu 5, 9, 13, 17, 19 tính điểm đảo ngược). Điểm thô được quy đổi sang "Chỉ số lo âu" (Anxiety Index) để phân loại 4 mức độ lâm sàng:
    • Nhóm 1 (Dưới 45 điểm): Không có lo âu.
    • Nhóm 2 (45 – 59 điểm): Lo âu mức độ nhẹ đến trung bình.
    • Nhóm 3 (60 – 74 điểm): Lo âu mức độ nghiêm trọng.
    • Nhóm 4 (Từ 75 điểm trở lên): Lo âu mức độ cực kỳ nghiêm trọng.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng bảng phỏng vấn bán cấu trúc gồm 6 câu hỏi định tính nhằm khai thác sâu trải nghiệm thực tế, nhận thức về bệnh, các mối bận tâm và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của thân nhân.
  • Phương pháp phân tích trường hợp (Case study): Phân tích chi tiết trường hợp thân nhân có chỉ số lo âu cao để minh họa cho các biểu hiện tâm sinh lý thu được.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS để tính toán tần số ($f$), tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình ($\text{ĐTB}$) và độ lệch chuẩn.
  • Quy trình và đạo đức nghiên cứu: Khảo sát được thực hiện theo mô hình tiếp xúc trực tiếp 1:1 trong 15 – 30 phút/phiếu, đảm bảo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bảo mật thông tin danh tính, sẵn sàng tạm dừng hoặc hỗ trợ nâng đỡ tâm lý khi khách thể có dấu hiệu xúc động mạnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối

Chương 1 tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước về lo âu và người chăm sóc bệnh nhân ung thư:

  • Lịch sử nghiên cứu thế giới: Điểm lại các cột mốc từ Hypocrate, Charles Darwin (1872), Sigmund Freud (1895) đến các nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về người chăm sóc như Weitzner (1999) phát triển thang đo chất lượng cuộc sống CQOLC; Ambigga Devi và cộng sự (2005) xác định tỷ lệ lo âu ở người chăm sóc là 48,6% và trầm cảm là 29,4%; Vanderwerker (2005) ghi nhận 13% người chăm sóc đáp ứng tiêu chuẩn rối loạn tâm thần; Michal Braun (2007) khảo sát sự suy giảm tâm lý ở người phối ngẫu; Selamat (2007) chỉ ra mối liên hệ giữa lo âu với việc thiếu chia sẻ vai trò chăm sóc; Northouse (2012) và Ullrich (2017) khẳng định người chăm sóc chịu gánh nặng tâm lý nặng nề, suy giảm chất lượng cuộc sống và xuất hiện các cơn lo âu, kiệt sức nghiêm trọng.
  • Lịch sử nghiên cứu trong nước: Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Mai (2011) về trầm cảm lo âu ở cha mẹ bệnh nhi ung thư, Lương Bích Thủy (2013) về nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc tại Bệnh viện K, và Nguyễn Văn Bằng cùng cộng sự (2015) tại Bệnh viện Quân y 103 về nhu cầu tư vấn y khoa. Tác giả nhấn mạnh khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về tình trạng lo âu của thân nhân người bệnh ung thư giai đoạn cuối tại các khoa chăm sóc giảm nhẹ ở Việt Nam.
  • Hệ thống hóa lý luận: Làm rõ các khái niệm, cơ chế phản ứng sinh lý thần kinh giao cảm (tiết catecholamine, norepinephrine, epinephrine tạo chuỗi phản ứng "chiến đấu hoặc trốn chạy" - Taylor, 2000; Bracha, 2004) và phân lập các tiêu chí phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý:
Tiêu chí Lo âu bình thường Lo âu bệnh lý
Đối tượng / Nội dung Lo âu trước các yếu tố có thực; phù hợp với tình huống và mất đi khi vấn đề được giải quyết. Xuất hiện với yếu tố có thật hoặc không có thật; thường phản ứng quá mức so với thực tế.
Khả năng kiểm soát Ở mức độ phù hợp, chủ thể có thể kiểm soát hoặc ngăn chặn được. Không kiểm soát được cơn lo âu; mang tính lan tỏa, khó kiềm chế và gây đau khổ lớn.
Thời gian tồn tại Ngắn, gắn liền với tình huống gây sợ hãi cụ thể. Kéo dài dai dẳng trong thời gian dài, không có xu hướng tự thuyên giảm.
Triệu chứng cơ thể Ít khi xuất hiện các triệu chứng cơ thể rõ rệt kèm theo. Triệu chứng thực thể và rối loạn thần kinh tự chủ xuất hiện nhiều, nặng nề.
Hệ quả chức năng Thường mang tính thích ứng, giúp chuẩn bị ứng phó với tình huống nguy hiểm. Cản trở nghiêm trọng các hoạt động sinh hoạt, nghề nghiệp và chức năng tâm lý - xã hội.
Biện pháp giải tỏa Tự điều chỉnh thông qua trấn an, nghỉ ngơi hoặc hỗ trợ tâm lý đơn giản. Cần được thăm khám chuyên khoa tâm thần, chẩn đoán toàn diện và trị liệu chuyên biệt.

Chương 2: Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập từ mẫu nghiên cứu ($N = 30$).

1. Cơ cấu nhân khẩu học của mẫu khách thể:

Đặc điểm nhân khẩu Phân loại Tần số ($f$) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 12 40,0
Nữ 18 60,0
Độ tuổi Dưới 30 tuổi 3 10,0
Từ 30 - 45 tuổi 12 40,0
Từ 46 - 65 tuổi 12 40,0
Trên 65 tuổi 3 10,0
Tôn giáo Không tôn giáo 16 53,7
Có tôn giáo (Thiên Chúa giáo: 50%, Phật giáo: 42,1%) 14 46,3
Công việc Ổn định 24 80,0
Thời vụ 3 10,0
Không có việc làm / Hưu trí 3 10,0
Thu nhập hàng tháng Dưới 5 triệu (Trên 3 triệu) 9 30,0
Từ 5 đến 10 triệu (Trên 5 triệu) 8 26,7
Trên 10 triệu 11 36,7
Trên 20 triệu 2 6,6
Trình độ học vấn Dưới THPT 4 13,3
THPT 15 50,0
Đại học 8 26,7
Sau Đại học 3 10,0
Mối quan hệ với người bệnh Con ruột của bệnh nhân 12 40,0
Vợ / Chồng của bệnh nhân 9 30,0
Anh / Chị / Em ruột 4 13,3
Bố / Mẹ ruột 2 6,7
Con dâu / Con rể 2 6,7
Cháu nội / Cháu ngoại ruột 1 3,3

2. Thực trạng mức độ và biểu hiện lo âu:

  • Phân bố mức độ lo âu: Nhóm 1 (Không lo âu) chiếm 34,0%; Nhóm 2 (Lo âu nhẹ đến trung bình) chiếm 40,0%; Nhóm 3 (Lo âu nghiêm trọng) chiếm 23,0%; Nhóm 4 (Lo âu cực kỳ nghiêm trọng) chiếm 3,0%. Tổng tỷ lệ thân nhân có biểu hiện lo âu (gộp 3 nhóm 2, 3 và 4) là 66,6%, cao hơn đáng kể so với kết quả của Ambigga Devi (2005) là 48,6%.
  • Biểu hiện lo âu nổi bật: Biểu hiện cơ thể chiếm ưu thế rõ rệt, đặc biệt là rối loạn giấc ngủ (Câu 19 đạt mức độ "luôn luôn có"), run rẩy bàn tay (Câu 9 ghi nhận 56,7% ở mức độ 4 điểm), và rối loạn nhịp thở/hụt hơi (Câu 13 có 40,0% ở mức độ 4 điểm). Câu 1 về trạng thái bồn chồn lo lắng đạt $\text{ĐTB} = 2,50$.
  • Dữ liệu phỏng vấn định tính: 26/30 khách thể (86,7%) trực tiếp chia sẻ nỗi sợ hãi tột cùng trước sự mất mát người thân đang đến gần. Nhiều người bày tỏ trạng thái kiệt sức, ăn không tiêu, thường xuyên gặp ác mộng, tay chân run rẩy nhưng có xu hướng đè nén cảm xúc để tập trung chăm sóc bệnh nhân.

3. Khác biệt mức độ lo âu theo các biến nhân khẩu:

Yếu tố phân tích Nhóm so sánh Điểm trung bình ($\text{ĐTB}$) Đặc điểm phân bố lâm sàng
Giới tính Nữ 2,22 Nữ chiếm 85,7% ở nhóm lo âu nghiêm trọng và 100% ở nhóm cực kỳ nghiêm trọng.
Nam 1,58 Nam giới chủ yếu biểu hiện lo âu qua nhận thức và hành vi tìm kiếm giải pháp.
Độ tuổi Từ 30 - 45 tuổi 2,25 Áp lực gánh vác nhiều trách nhiệm xã hội, con nhỏ và việc làm cùng lúc.
Từ 46 - 65 tuổi 2,08 Chịu gánh nặng chăm sóc lớn, sức khỏe bản thân bắt đầu suy giảm.
Dưới 30 tuổi 1,08 - 1,43 Tỷ lệ lo âu tập trung ở mức độ nhẹ và trung bình.
Trên 65 tuổi 1,00 100% khách thể thuộc nhóm không có lo âu bệnh lý.
Công việc Việc làm ổn định 2,04 Lo âu cao do áp lực sắp xếp thời gian, xin nghỉ phép và nguy cơ mất thu nhập.
Việc làm thời vụ 2,00 Chia đều ở các mức không lo âu, nhẹ-trung bình và nghiêm trọng (mỗi mức 33,3%).
Không có việc / Hưu trí 1,00 - 1,40 Mức độ lo âu thấp hơn do chủ động được quỹ thời gian chăm sóc.
Tôn giáo Có tôn giáo 2,14 Chiếm 66,7% nhóm nghiêm trọng và 100% nhóm cực kỳ nghiêm trọng.
Không tôn giáo 1,81 50,0% không lo âu; 75,0% lo âu ở mức độ nhẹ đến trung bình.
Thu nhập Trên 20 triệu 2,50 50% lo âu nhẹ-trung bình, 50% lo âu nghiêm trọng (lo sợ mất mát người thân).
Trên 3 triệu 2,11 - 2,88 44,4% lo âu nghiêm trọng (chịu áp lực nặng nề về chi phí viện phí, thuốc men).
Trên 5 triệu 1,88 62,5% lo âu mức độ nhẹ đến trung bình.
Trên 10 triệu 1,50 45,5% không có lo âu, phân bố rải rác ở các mức độ khác.
Học vấn THPT 2,60 Nhóm chiếm tỷ lệ lo âu cao nhất.
Sau Đại học 1,75 Điểm trung bình lo âu ở mức thấp hơn.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của nghiên cứu

  1. Nghiên cứu xác định tỷ lệ thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM có biểu hiện lo âu lên tới 66,6% (trong đó 40,0% lo âu nhẹ-trung bình, 23,0% lo âu nghiêm trọng và 3,0% cực kỳ nghiêm trọng).
  2. Biểu hiện lo âu của thân nhân bộc lộ đậm nét nhất qua các triệu chứng thực thể, cụ thể là suy giảm chất lượng giấc ngủ (mất ngủ, ngủ chập chờn, mộng mị, ác mộng), run tay, mệt mỏi, khó thở và rối loạn tiêu hóa.
  3. Về mặt tâm lý, nỗi sợ mất mát và chứng kiến người thân đau đớn qua đời là mối bận tâm lớn nhất, chi phối 86,7% khách thể khảo sát.
  4. Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ lo âu giữa các nhóm nhân khẩu: Nữ giới lo âu cao hơn nam giới; nhóm tuổi lao động (30 - 65 tuổi) lo âu cao hơn người cao tuổi; người có công việc ổn định chịu áp lực thời gian lớn hơn; nhóm thu nhập thấp chịu gánh nặng tài chính trong khi nhóm thu nhập cao lo âu sâu sắc về sự bất lực trước cái chết của người thân.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Đóng góp học thuật: Khóa luận bổ sung nguồn dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về thực trạng tâm lý của thân nhân người bệnh tại một khoa Chăm sóc giảm nhẹ tuyến đầu tại TP.HCM, góp phần kiểm chứng thang đo Zung (ZSAS) trên nhóm khách thể đặc thù tại Việt Nam.
  • Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất: Tác giả đề xuất các cơ sở y tế và các nhà hoạch định chính sách cần:
    • Bổ sung chức danh và nhân sự chuyên viên tâm lý lâm sàng cơ hữu tại các khoa Chăm sóc giảm nhẹ để thực hiện can thiệp nâng đỡ tâm lý cho cả bệnh nhân và thân nhân.
    • Xây dựng các phòng tư vấn tâm lý riêng biệt tại bệnh viện nhằm tạo không gian an toàn, bảo mật cho thân nhân bộc lộ cảm xúc và giảm bớt phản ứng né tránh.
    • Thành lập các nhóm hỗ trợ đồng đẳng (support groups) giữa các gia đình có người thân mắc bệnh hiểm nghèo để chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc và giải tỏa áp lực tinh thần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Quy mô mẫu nghiên cứu còn nhỏ ($N = 30$) do tính chất đặc thù của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (thời gian điều trị biến động, thể trạng chuyển biến nhanh) và thời gian khảo sát thực tế tương đối ngắn (hơn 1 tháng).
    • Không gian nghiên cứu chỉ giới hạn tại một cơ sở y tế duy nhất (Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM), chưa thực hiện so sánh đối chứng với các bệnh viện chuyên khoa ung bướu khác.
    • Quá trình thu thập dữ liệu gặp trở ngại khi nhiều thân nhân đang trong tình trạng căng thẳng, kiệt sức, e dè hoặc né tránh bộc lộ cảm xúc do tâm lý ưu tiên thời gian bên cạnh chăm sóc bệnh nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô khách thể nghiên cứu và tiến hành khảo sát đa trung tâm tại các bệnh viện ung bướu và cơ sở chăm sóc giảm nhẹ trên toàn quốc.
    • Triển khai các nghiên cứu can thiệp thực nghiệm (intervention studies) ứng dụng các liệu pháp tâm lý chuyên sâu (như liệu pháp nhận thức - hành vi, liệu pháp chấp nhận và cam kết) nhằm đo lường hiệu quả giảm thiểu lo âu cho thân nhân người bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Tâm lý học (đặc biệt là Tâm lý học Lâm sàng, Tâm lý học Sức khỏe), Công tác xã hội và Xã hội học y tế cần tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu và kỹ thuật khảo sát người chăm sóc bệnh nhân hiểm nghèo.
    • Bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế: Đang công tác tại các khoa Ung bướu, Lão khoa và Chăm sóc giảm nhẹ nắm bắt diễn biến tâm lý và các triệu chứng thực thể của người nhà bệnh nhân để có phương thức giao tiếp và phối hợp chăm sóc hiệu quả.
    • Chuyên viên tâm lý và nhân viên công tác xã hội bệnh viện: Có thêm dữ liệu thực tế để thiết kế các chương trình tham vấn, can thiệp tâm lý lâm sàng tại cơ sở y tế.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Hệ thống hóa khung lý thuyết phân biệt lo âu thường và lo âu bệnh lý.
    • Quy trình và bảng điểm thích ứng thang đo tự đánh giá lo âu Zung (ZSAS) 20 câu.
    • Bộ câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc 6 mục tìm hiểu trải nghiệm tâm lý của thân nhân người bệnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ thân nhân có biểu hiện lo âu trong nghiên cứu này là bao nhiêu và phân bố theo các mức độ lâm sàng như thế nào?

Theo kết quả khảo sát trên 30 thân nhân tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, tổng tỷ lệ thân nhân có biểu hiện lo âu là 66,6%. Cụ thể: 40,0% ở mức độ lo âu nhẹ đến trung bình (Nhóm 2), 23,0% ở mức độ lo âu nghiêm trọng (Nhóm 3), và 3,0% ở mức độ cực kỳ nghiêm trọng (Nhóm 4). Nhóm không có biểu hiện lo âu bệnh lý (Nhóm 1) chiếm 34,0%.

2. Thang đo nào được sử dụng để đánh giá mức độ lo âu trong khóa luận?

Nghiên cứu sử dụng Thang đo Tự đánh giá Lo âu của Zung (Zung Self-Rating Anxiety Scale - ZSAS) gồm 20 câu hỏi đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 4. Điểm số thô sau đó được chuyển đổi thành Chỉ số lo âu (Anxiety Index) để phân loại mức độ lâm sàng theo 4 nhóm chuẩn hóa từ dưới 45 điểm đến trên 75 điểm.

3. Biểu hiện lo âu nào về mặt cơ thể xuất hiện rõ rệt nhất ở người chăm sóc?

Lo âu của thân nhân bộc lộ rõ rệt nhất qua giấc ngủ (Câu 19 trong thang Zung đạt điểm trung bình ở mức "luôn luôn có", thân nhân thường xuyên mất ngủ, ngủ không sâu giấc, gặp ác mộng), triệu chứng run rẩy bàn tay (Câu 9 có 56,7% khách thể ở mức tối đa 4 điểm) và rối loạn nhịp thở/hụt hơi (Câu 13 chiếm 40,0% ở mức 4 điểm).

4. Mức độ lo âu có sự khác biệt như thế nào theo yếu tố giới tính và độ tuổi?

  • Về giới tính: Nữ giới có điểm trung bình lo âu ($\text{ĐTB} = 2,22$) cao hơn nam giới ($\text{ĐTB} = 1,58$), chiếm 85,7% nhóm lo âu nghiêm trọng và 100% nhóm cực kỳ nghiêm trọng. Nữ giới bộc lộ trực tiếp qua cảm xúc và triệu chứng cơ thể, trong khi nam giới biểu hiện qua nhận thức và tìm giải pháp.
  • Về độ tuổi: Nhóm tuổi 30 – 45 tuổi ($\text{ĐTB} = 2,25$) và 46 – 65 tuổi ($\text{ĐTB} = 2,08$) có mức độ lo âu cao nhất do chịu nhiều áp lực gia đình và xã hội. Ngược lại, nhóm trên 65 tuổi có 100% khách thể thuộc nhóm không có lo âu bệnh lý.

5. Nỗi bận tâm tâm lý lớn nhất mà thân nhân bệnh nhân chia sẻ trong các buổi phỏng vấn sâu là gì?

Có 26 trên tổng số 30 khách thể (chiếm 86,7%) chia sẻ rằng nỗi lo sợ lớn nhất và thường trực nhất của họ là chứng kiến người thân đau đớn và đối diện với sự mất mát không thể cứu vãn khi người thân qua đời, dù phần lớn gia đình đã được nhân viên y tế thông báo chuẩn bị tâm lý từ trước.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nguyễn Minh Châu đã phản ánh thực trạng mức độ lo âu đáng báo động (66,6%) ở thân nhân đang chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Biểu hiện lo âu của nhóm khách thể này thể hiện rõ nét qua các triệu chứng thực thể, đặc biệt là rối loạn giấc ngủ, run rẩy và kiệt sức, đồng thời chịu sự chi phối mạnh mẽ từ các yếu tố giới tính, độ tuổi, tôn giáo, việc làm và áp lực kinh tế. Công trình là tài liệu tham khảo thực nghiệm có giá trị, nhấn mạnh tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống hỗ trợ tâm lý chuyên trách dành cho người chăm sóc bên cạnh quá trình điều trị y khoa cho bệnh nhân ung thư.