Chương 1: Cơ sở lý luận về việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Chương 2: Thực trạng việc xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Một số biện pháp xây dựng các trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề “Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 - 2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, xây dựng một nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển KT - XH 2001 - 2010”. Xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở Tiểu học có tầm quan trọng to lớn.
Chính vì vậy, có nhiều công trình khoa học, nhiều đề tài luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu về từng mảng trong việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia như: về đội ngũ quản lý ở trường Tiểu học, phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học, xây dựng cơ sở vật chất ở trường phổ thông, nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học, thực hiện công tác xã hội hoá. một số luận văn Thạc sĩ như: Về chất lượng giáo viên có: “Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên Tiểu học quận Ngô Quyền - Hải Phòng”. Luận văn Thạc sĩ của Vũ Nguyên Nhung - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Hay: “Biện pháp quản lý bồi dưỡng, đào tạo giáo viên Tiểu học ở huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay”.
Luận văn Thạc sĩ của Dương Văn Đức - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ “Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trường Mầm non thành thị Hải Phòng đạt chuẩn Quốc gia trong giai đoạn hiện nay” của Phạm Thị Loan - Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong luận văn này chỉ đề cập đến xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở Mầm non. Mảng cơ sở vật chất luận văn Thạc sĩ của Phạm Ngọc Đào - trường Đại học Quốc gia Hà Nội “Quy chuẩn và quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật.
Một yếu tố đảm bảo chất lượng giáo dục phổ thông Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2010” Xã hội hóa cũng là một tiêu chuẩn trong việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia. Có luận văn Thạc sĩ của Thân Văn Dàn - Đại học Quốc gia Hà Nội 5 z “Giải pháp tăng cường xã hội sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”. Song các luận văn trên chỉ đề cập đến một phần của các tiêu chuẩn xây dựng trường chuẩn Quốc gia. Chưa có luận văn nào đề cập một cách tổng thể, đầy đủ về các tiêu chuẩn để xây dựng một trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia.
Sự nghiệp giáo dục thị xã Phúc Yên nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung trong những năm gần đây có bước phát triển đột phá. Song các trường Tiểu học ở thị xã Phúc Yên đạt chuẩn chưa nhiều, chưa đạt với mục tiêu đề ra của ngành, một số trường chỉ đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 1, chưa có trường nào đạt chuẩn Quốc gia ở mức độ 2. Nhận thức được trường chuẩn Quốc gia ở Tiểu học có vai trò quan trọng nên tỉnh Vĩnh Phúc, Sở, Phòng Giáo dục đang quyết tâm xây dựng, nâng cao chất lượng về mọi mặt để 100% các trường Tiểu học thị xã Phúc Yên đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1 và nâng dần lên mức độ 2. Toàn thị xã chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề xây dựng trường Tiểu học thị xã Phúc Yên đạt chuẩn Quốc gia.
Hiện tại thực trạng về CSVC, tài chính đầu tư cho GD, chất lượng GD, xã hội hóa. của thị xã Phúc Yên chưa cao, còn hạn chế. Vì vậy để đưa giáo dục Tiểu học thị xã phát triển mạnh, chúng tôi nhận thấy rằng cần phải xây dựng các trường Tiểu học nhằm đạt chuẩn Quốc gia trong giai đoạn hiện nay và những giai đoạn tiếp theo. Đây là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp phát triển giáo dục góp phần nâng cao, phát triển KT - XH của thị xã Phúc Yên.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý trường Tiểu học.1 Khái niệm quản lý * Quan niệm về quản lý của các tác giả nước ngoài : Khái niệm quản lý được xuất hiện từ khi có sự phân công lao động xã hội.Mác đã từng nói về quản lý rằng “Một dàn nhạc phải có một nhạc trưởng” và 6 z định nghĩa quản lý như là lao động “để điều khiển lao động”, nó chính là điều kiện quan trọng nhất để xã hội loài người hình thành, vận hành và phát triển.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm. Nhà lý luận quản lý người Nga F.Aunapu năm 1983 đã định nghĩa: “Quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, một nghệ thuật tác động vào hệ thống đó chủ yếu là vào những con người nhằm đạt mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định”.Taylor người Mỹ cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất. Với quan điểm đó, W.Taylor đã chủ trương áp dụng: Chỉ người lãnh đạo mới nêu ra phương pháp hoạt động và quyết định chọn phương pháp tổ chức tiến hành hoạt động áp đặt phương pháp chung cho mọi người trong tổ chức coi nhân tố kinh tế cao hơn con người, coi thù lao vật chất là nhân tố, nguồn kích thích duy nhất. Theo Harold Koontz - Cyrit ở Donnell - Heinz Weihrich định nghĩa: “Quản lý là hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được cái đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự thỏa mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn hình thức có tổ chức thì quản lý là một khoa học” Theo phân tích của C.Mác: Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp, nó xác định sự tương hợp giữa công việc có thể và hình thành chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với từng bộ phận riêng của nó.Mác đã lột tả quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động. Hoạt động quản lý bắt nguồn, nảy sinh và phát triển từ lao động của con người có ý nghĩa lịch sử vĩnh hằng, với tư cách là một hoạt động điều khiển mọi hoạt động xã hội. Chức năng cơ bản của quản lý là liên hợp tất cả các hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ chức của quản lý với tính cách là một hiện tượng lịch sử xã hội đồng bộ, đó là nội dung chủ yếu của các vấn đề lý luận quản lý.
Các nhà nghiên cứu trình bày khái niệm theo các cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên đều có điểm chung về khái niệm quản lý như sau: 7 z - Tác động quản lý, nghĩa là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý. - Quan hệ quản lý giữa những người trong một hệ thống quản lý. - Phương pháp quản lý là bộ phận năng động nhất của quản lý, mang tính quyết định đến hiệu quả của quản lý. - Chức năng của quản lý và nguyên tắc quản lý.
- Thông tin quản lý (thu nhập, xử lý, lưu trữ. để ra quyết định quản lý). Trong giáo trình khoa học quản lý đã nêu: [ 11 ] - Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm mục tiêu đề ra. - Quản lý công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
- Quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm. - Quá trình quản lý là thực hiện các chức năng quản lý, các chức năng này tạo thành một chu trình quản lý và giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau [40]. Chu trình quản lý được mô tả như sau: Sơ đồ 1.1- Các chức năng và chu trình quản lý Lập kế hoạch Tổ chức Thông tin Kiểm tra Chỉ đạo - Lập kế hoạch: Bao gồm việc lựa chọn một đường lối hoạt động mà cơ sở, đơn vị, bộ phận đó sẽ tuân theo. Kế hoạch là văn bản trong đó xác định những mục tiêu và những quyết định thể thức để đạt được mục tiêu đó.
Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu. Kế hoạch là nền tảng của quản lý. - Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bố công việc, quyền hành và các nguồn lực khác nhau cho các thành viên để có thể đạt được các mục tiêu của tổ 8 z chức một cách hiệu quả. Với các mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức khác nhau.
Nguồn quản lý cần lựa chọn các cấu trúc tổ chức phù hợp với mục tiêu và nguồn lực hiện có. - Chỉ đạo: Là điều hành, chỉ dẫn, đôn đốc, giám sát, khuyến khích động viên, điều khiển và điều chỉnh đối tượng hoạt động; giúp đỡ các cán bộ dưới quyền thực hiện nhiệm vụ được phân công. - Kiểm tra: Là hoạt động của người quản lý để kiểm tra các hoạt động của đơn vị về thực hiện mục tiêu đặt ra. Các yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra là: + Xây dựng chuẩn thực hiện.
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn. + Điều chỉnh hoạt động khi có sự chênh lệch. Trường hợp cần thiết có thể phải điều chỉnh mục tiêu.