phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng công tác tổ chức, bồi dưỡng, đào tạo Nghiệp vụ Sư phạm cho đội ngũ giảng viên trường Đại học Phương Đông – Hà Nội Chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên trường Đại học Phương Đông 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu Giáo dục ở bất kỳ xã hội nào, trong bất cứ thời đại nào cũng phục vụ cho sự phát triển của xã hội đó.Vì vậy hoạt động giáo dục phải luôn luôn đổi mới không ngừng để góp phần vào sự tiến bộ của xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ “Muốn tiến hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển Giáo dục - Đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của việc phát triển nhanh chóng, bền vững”. Nghị quyết Trung ương II, tại Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mục đích giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa hiện nay là: “Xây dựng những con người và thế hệ trẻ thiết tha, gắn bó với lí tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện vào công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, biết giữ gìn và phát huy truyền thống các giá trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu và bảo tồn những tri thức tinh hoa văn hoá nhân loại.
Để thực hiện tốt mục đích giáo dục mà văn kiện Đại hội Đảng đã đề ra, Ngành Giáo dục cần nỗ lực đầu tư hơn nữa về tất cả các mặt: Nhân lực, vật lực, tài lực, huy động mọi tiềm năng sẵn có của xã hội cùng với nội lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên nói chung và giảng viên trường đại học Phương Đông nói riêng trong toàn Ngành Giáo dục. Từ trước đến nay, nhất là kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên và sinh viên các trường thuộc khối sư phạm. 10 z Ví dụ đề tài "Tổ chức và quản lý công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giáo sinh trường THSP tỉnh Thanh Hoá" của Nguyễn Xuân Thái, Hà Nội, l999; Đề tài “Thực trạng và các biện pháp tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường CĐSP Hải Phòng”của Hoàng Thị Lệ Khanh, Hà Nội, 2000; Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên khoa Mầm non trường ĐHSP Hải Phòng”. Tuy nhiên, chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu về việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trường đại học và cụ thể là giảng viên trường đại học Phương Đông.
Lý luận chung về quản lý 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội.
Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan niệm về quản lý khác nhau. Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [1].
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra. 11 z Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiề u nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người. Chẳng hạn: - Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu đề ra.
- Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederic Wiliam Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [18]. Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A. - Dưới góc độ điều khiển học, A. Beng cho rằng: Quản lý là quá trình chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó [35].
- Nhà toán học A. Kolmogorov cho rằng: Quản lý là quá trình gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống[35]. - Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức [32]. - Theo quan điểm của hệ thống thế giới quan Mác - Lê Nin cho rằng: Toàn bộ thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống.Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, cũng là hệ 12 z thống.
Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường”. - Quan niệm về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam: + Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [19]. + Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (S - O) về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá bằng một hệ thống các nguyên tắc pháp luật, chính sách, phương pháp và giải pháp quản lý tạo ra những điều kiện cho sự phát triển của khách thể và tạo ra uy tín [16]. + Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [43].
+ Theo quan điểm của Nguyễn Quang Toản - Trung tâm quản lý chất lượng quốc tế (IQC) thì: Quản lý là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức trong việc đạt mục đích đề ra [34]. + Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [35]. Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với những cách tiếp cận khác nhau nhưng từ những quan niệm đó có thể thấy rõ được nội hàm khái niệm quản lý như sau: 13 z - Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.
Hoạt động "quản lý" bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người. Đồng thời khái niệm “quản lý" cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác cũng phải xây dựng theo những quy tắc khái niệm và không phạm phải sai lầm có thể có khi khái niệm sẽ thuộc loại khái niệm chính xác. Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên ta nhận thấy hầu như các quan điểm đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người.
Có định nghĩa chưa nêu được khuynh hướng vận động của đối tượng quản lý theo mục đích hoạt động của con người. Theo chúng tôi, chỉ có quan niệm của Nguyễn Đức Trí về “quản lý" đầy đủ, hợp lý hơn cả: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữcho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [35]. Chức năng của quản lý a. Chức năng kế hoạch hoá Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý hàng đầu đương đại đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc "đúng") và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc).
ông cho rằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọn sai mục tiêu.