CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ NHẰM CHỐNG CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Khái quát về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài “FDI là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp”.
[2] “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài [2] - Có đặc điểm của đầu tư nói chung; - Hoạt động có tính sinh lãi và tính rủi ro; - Chủ sở hữu đầu tư có quốc tịch nước ngoài; - Các yếu tố đầu tư (nguồn nhân lực, vốn, công nghệ,.) di chuyển ra khỏi biên giới; - Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với hoạt động nộp thuế tại Việt Nam 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế a.
Khái niệm Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đặc điểm của thuế 6 - Thứ nhất: Thuế có tính bắt buộc Đây là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. - Thứ hai: Thuế có tính không hoàn trả trực tiếp Thuộc tính này thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế.
- Thứ ba: Thuế có tính pháp lý cao Thuế là công cụ tài chính có tính pháp lý cao được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Các loại thuế có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hầu hết các hoạt động kinh doanh và đầu tư ở Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng của những loại thuế sau đây - Thuế thu nhập doanh nghiệp; - Thuế GTGT nhà thầu nước ngoài; - Thuế TNDN nhà thầu nước ngoài; - Thuế chuyển nhượng vốn; - Thuế giá trị gia tăng; - Thuế nhập khẩu; - Thuế thu nhập cá nhân của nhân viên người Việt Nam và nhân viên người nước ngoài; Ngoài ra, các loại thuế khác có thể có ảnh hưởng đến một số hoạt động nhất định, bao gồm: - Thuế tiêu thụ đặc biệt; - Thuế tài nguyên; - Thuế áp dụng đối với bất động sản; 7 - Thuế xuất khẩu; - Thuế bảo vệ môi trường. Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước Doanh nghiệp có vốn ĐTNN có vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào NSNN, cụ thể: Năm 2015 là 2.758 tỷ đồng, gấp 9 lần năm 2000, chiếm tỷ trọng 15% trong tổng thu NSNN và chiếm 21% trong tổng thu nội địa do ngành thuế quản lý, và nếu cộng cả tiền sử dụng đất và thuế TNCN, con số này lên tới trên 25%, bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 18,6%/năm. Cùng với những đóng góp lớn cho NSNN, các DN có vốn ĐTNN đã tạo ra hàng triệu việc làm, giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế, nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật và cân bằng cán cân thương mại của Việt Nam với các nước trên thế giới.
Những kết quả nổi bật và một số hạn chế của thu hút vốn ĐTNN tại Việt Nam từ năm 1987 đến nay 1. Những kết quả nổi bật [5] Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút ĐTNN với việc ban hành Luật ĐTNN năm 1987, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cụ thể: Thứ nhất, ĐTNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước. Tính đến tháng 12/2015, cả nước có 14.095 dự án ĐTNN còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 206,8 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đã giải ngân được 97,4 tỷ USD (chiếm 47% vốn đăng ký). Tỷ trọng đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDP tăng dần qua các năm.
Tác động của ĐTNN đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ hơn thông qua số nộp vào NSNN. 8 Đóng góp vào nguồn thu ngân sách: Vốn ĐTNN ngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (1994-2000) lên 14,2 tỷ USD (2001 – 2010). Năm 2012, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7% tổng thu nội địa, trừ dầu thô). Đến năm 2015, nộp ngân sách của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) là 6,4 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng thu ngân sách (19,3% tổng thu nội địa, trừ dầu thô) Thứ hai, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - điện đại hóa.
Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành. Đến nay, khu vực ĐTNN đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng. Thứ ba, ĐTNN tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động.
Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 - 4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. DN ĐTNN được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài. Ngoài ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng. Thứ tư, ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế.
9 Khu vực ĐTNN sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực. Từ năm 1993 đến nay, cả nước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt/đăng ký, trong đó có 605 hợp đồng của DN ĐTNN, chiếm 63,6%. Thứ năm, ĐTNN có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp độ quốc gia, DN và sản phẩm. Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản.
Kết quả phân tích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực ĐTNN cao hơn so với khu vực trong nước. Đồng thời, khu vực ĐTNN đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh của khu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động. Thứ sáu, ĐTNN góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị DN, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh. Thực tiễn ĐTNN đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản lý kinh tế và DN, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thế hội nhập.
Thứ bảy, ĐTNN đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế. Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước. Những hạn chế [1] Thứ nhất, hiệu quả tổng thể nguồn vốn ĐTNN chưa cao Trong công nghiệp - xây dựng, các dự án ĐTNN chủ yếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ sở hạ tầng; tỷ trọng dự án trong nông - lâm - ngư nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dần trong khi đây là những ngành Việt Nam có thế mạnh. Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy mô lớn còn cao song nhiều trong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất đai, vay vốn trong nước.
ĐTNN vào các dịch vụ trung gian, dịch vụ giá trị gia tăng cao, giáo dục đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe, môi trường… còn hạn chế. ĐTNN hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được mục tiêu hướng ĐTNN vào địa bàn khó khăn. Các Khu kinh tế, khu công nghiệp. không tạo ra lợi thế khác biệt cho từng địa phương và vùng lãnh thổ.
Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ Châu Á, nhà ĐTNN là doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên 100 trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký, chỉ khoảng 47,2%.